Following the Pranic Trail
Hiện tại, con người đồng nhất hóa bản thân với cơ thể và tâm trí theo nhiều cách khác nhau. Nhưng về cơ bản, cái bạn gọi là "bản thân tôi" chỉ là một lượng năng lượng nhất định. Khoa học hiện đại đã chứng minh không còn nghi ngờ gì nữa rằng toàn bộ sự tồn tại đều được tạo thành từ cùng một nguồn năng lượng, biểu hiện ra hàng triệu cách khác nhau đến mức khiến người ta bối rối. Khi Einstein đưa ra công thức E = mc2, nói một cách đơn giản, ông ấy đang nói rằng mọi thứ trong vũ trụ đều có thể được nhìn nhận chỉ là một nguồn năng lượng duy nhất. Các tôn giáo trên khắp thế giới cũng đã tuyên bố điều tương tự bằng một thuật ngữ hơi khác khi họ khẳng định rằng "Thượng đế hiện diện khắp mọi nơi".
Khoa học hiện đại đã đi đến những kết luận của mình thông qua suy luận toán học. Tôn giáo đã đi đến những kết luận của mình thông qua niềm tin. Nhưng người tu yoga là một kẻ cứng đầu không chấp nhận suy luận hay niềm tin. Người đó tìm cách trải nghiệm cái tối thượng bằng cách nâng cao nhận thức cá nhân. Vì vậy, truyền thống yoga không đề cập đến Thượng đế, cũng không phủ nhận điều đó.
Khát khao bành trướng của con người thực ra chỉ là sự thể hiện của trí tuệ vô hình tối thượng chính là nguồn gốc của chúng ta. Thay vì cố gắng tìm ra nguồn gốc của khát khao này, chúng ta cố gắng thể hiện nó ra bên ngoài thế giới. Do bản chất của các giác quan hướng ngoại của chúng ta, chúng ta bị lừa dối tin rằng sự thể hiện ra bên ngoài sẽ đem lại sự trọn vẹn. Khi bạn hiểu sai sự thể hiện là nguyên nhân, nó sẽ chỉ đem lại sự rối ren, chứ không phải là tự do.
Mục đích duy nhất của năng lượng sự sống của mỗi cá nhân là chạm đến cái vô hạn - chính cốt lõi của sự tạo hóa chúng ta. Chúng không biết đến mục đích nào khác. Tâm trí của bạn có thể đang nghĩ về tiền bạc hoặc một ngôi nhà mới, cơ thể của bạn có thể đang khao khát thức ăn hay giấc ngủ, nhưng năng lượng sự sống của bạn luôn khao khát vượt qua những giới hạn do cấu trúc thể chất và tâm lý của bạn đặt ra. Từ từ, trong quá trình sống, nhiều người đã ngừng theo đuổi quỹ đạo của năng lượng sự sống mình. Kết quả là họ bắt đầu tin rằng họ là những thực thể riêng biệt hoặc tự lập.
Nhưng sự tách biệt là một ảo tưởng. Nội dung của cả cơ thể vật lý và tinh thần của bạn đều được tập hợp từ bên ngoài. Chúng thuộc về bạn nhưng chúng không phải là bạn. Nếu bạn muốn đi theo cách mà cơ thể của bạn đang đi hiện tại, bạn nên biết rằng nó đang đi thẳng về phía ngôi mộ. Tương tự, bất cứ điều gì bạn biết là tâm trí đều là một mớ hỗn loạn phức tạp của tất cả những thứ nó đã tích lũy. Các mục tiêu của tâm trí hoàn toàn do chính nó tự tạo ra. Chúng có thể dường như ổn ngay lúc này, nhưng thông thường chúng sẽ đưa bạn hoàn toàn ra khỏi quá trình sự sống. Vì vậy, nếu bạn đi theo lối đi của tâm trí, bạn nên biết rằng bạn đang đi về hướng một tạo vật tâm lý thay thế; nó có thể lôi cuốn, kích thích hoặc thậm chí đem lại sự an ủi trong một khoảng thời gian dài, nhưng nó hoàn toàn không liên quan gì đến thực tại tồn tại.
Toàn bộ quá trình yoga nhằm mục đích đưa bản thân cân bằng với khát vọng tự nhiên của sự sống muốn bành trướng một cách vô hạn. Nó thể hiện một cách có ý thức nhu cầu cơ bản của con người. Các thực hành tâm linh khác nhau trong khoa học yoga nhằm hỗ trợ khát khao này ở ba cấp độ: cơ thể vật lý, cơ thể tinh thần và lớp vỏ bọc thứ ba hay tầng thứ ba của cơ chế con người, pranamayakosha, hay cơ thể năng lượng.
Yoga có nghĩa là trải nghiệm rõ ràng quá trình tinh thần và thể chất, không phải như cơ sở của bản thân, mà là những gì được gây ra bởi bạn. Nếu bạn quản lý hai công cụ cơ thể và tâm trí một cách có ý thức, thì trải nghiệm cuộc sống của bạn là 100% do chính bạn tạo ra. Tất cả những gì bạn cần làm là tạo ra khoảng cách giữa bạn và mọi thứ bạn đã tích lũy từ bên ngoài.
Mọi thứ bạn đã tích lũy trong cuộc đời này đi cùng bạn bất cứ nơi đâu bạn đến. Nó gắn bó sâu sắc với bạn, và ngược lại, bạn cũng gắn bó sâu sắc với nó ở một mức độ vô thức nào đó. Nó trở thành một gánh nặng bởi vì bạn không biết khi nào để buông xuống và khi nào để nhắc lên. Nó giống như một cái túi mà bạn mang trên vai suốt thời gian.
Nhưng có khả năng bạn có thể buông nó xuống. Nó vẫn sẽ là người bạn đồng hành của bạn, nhưng ít ra nó sẽ không quá nặng nề! Chắc chắn có khả năng tạo ra một khoảng cách giữa bạn và những gì bạn đã gom góp. Bạn có thể sử dụng nó khi muốn, nhưng bạn không cần phải đồng nhất với nó. Nếu bạn không thể duy trì khoảng cách này, toàn bộ tầm nhìn của bạn về cuộc đời sẽ bị lu mờ. Ký ức và trí tưởng tượng của bạn - bao gồm tất cả ý tưởng, niềm tin và cảm xúc của bạn - thuộc về lĩnh vực tâm lý. Cuộc sống chỉ có thể được nếm trải và vượt qua khi có sự phân biệt giữa tâm lý và bản thể tồn tại.
Quá trình tâm linh có nghĩa là quay trở lại với cuộc sống. Điều đó có nghĩa là đi theo trí tuệ sâu sắc của năng lượng sự sống của bạn. Có nhiều cách để nhận ra năng lượng sự sống của bạn muốn đi theo hướng nào. Nếu bạn tách mình khỏi quá trình sinh lý và tâm lý, bạn sẽ rõ ràng nhìn thấy điều này. Chỉ khi bạn có ý thức đi theo hướng của năng lượng sự sống mình, bạn mới tìm thấy bình tĩnh và hài hòa. Chỉ trong trạng thái ổn định như vậy, bạn mới dám khám phá các cấp độ phấn khích cao nhất và đi vào những bí ẩn sâu xa nhất của cuộc sống.
ĐAU ĐỚN KHÔNG PHẢI LÀ KHỔ ĐAU
Vào những ngày tôi chạy mô tô, tôi thường đi khắp đất nước. Một ngày nọ khi tôi ở một khu vực hẻo lánh, một tai nạn bất ngờ xảy ra, và cơ bắp chân tôi bị xước sâu đến tận xương. Vì vậy, tôi đến một phòng khám địa phương và yêu cầu bác sĩ băng bó vết thương cho tôi. Bác sĩ khám vết thương và nói rằng ông không thể làm gì vì không có phương tiện gây tê. Ông đề nghị tôi nhanh chóng đến một bệnh viện lớn hơn để được chăm sóc y tế khẩn cấp. Tôi nói rằng tôi không có thời gian, tôi phải tiếp tục cuộc hành trình vì tôi có lịch trình phải đáp ứng. Tôi bảo ông phải băng bó vết thương cho tôi. Ông từ chối. Tôi đang chảy nhiều máu. Sau nhiều lời qua tiếng lại, cuối cùng ông đồng ý vì đã có một vũng máu tích tụ ở nơi tôi đứng. Vì vậy, không có bất kỳ thuốc tê nào, ông bắt đầu khâu cơ bắp cho tôi, mất khoảng 52 mũi khâu ở ba tầng khác nhau. Trong suốt quá trình này, tôi đang trò chuyện với ông ta. Ông vã mồ hôi và thở hồng hộc suốt quá trình. Sau khi xong, ông hỏi tôi một cách khó tin, "Liệu có chút đau nào ở chân ông không?"
Đau đớn đã có. Đau đớn tệ hại, không thể chịu đựng được. Nhưng đau đớn là một hiện tượng tự nhiên, và nó là tốt. Nếu không có nó, bạn sẽ không biết nếu chân mình bị chặt đứt. Nhưng khổ đau là một vấn đề hoàn toàn khác. Đau đớn đã đủ tệ rồi, tại sao lại làm cho nó tồi tệ hơn với sự khổ đau? Khổ đau hoàn toàn là do chính mình tạo ra. Và mọi con người đều có lựa chọn: khổ hay không khổ. Không cần nhiều trí tuệ để chọn lựa sau.
The Karmic Conundrum
Có lần xảy ra... Một ngày nọ, Shankaran Pillai đang ngồi trong một quán bar với những người bạn của mình. Đột nhiên, đồng hồ điểm 8 giờ. Shankaran Pillai đặt ly xuống, đứng dậy và bắt đầu đi về phía cửa ra vào.
Bạn bè anh ta nói: "Này, có vấn đề gì vậy? Anh đi đâu đấy? Tại sao không uống xong ly rượu của anh?" Nhưng Shankaran Pillai vẫn tiếp tục đi về phía cửa ra vào một cách im lặng, giống như một người máy.
Bạn bè anh ta cười và nói: "Okay, giờ chúng tôi hiểu rồi! Đã 8 giờ và anh phải về nhà. Anh sợ vợ mình phải không? Anh là đàn ông hay chuột vậy?"
Shankaran Pillai dừng lại, quay lại và nói: "Tôi là người đàn ông trong nhà. Nếu tôi là chuột, vợ tôi sẽ sợ tôi!"
Anh ta đi về nhà từ từ. Quy tắc của vợ anh ta là anh phải đến nhà trước 8 giờ. Hôm nay, cuộc tranh luận về đàn ông hay chuột và tốc độ đi chậm chạp vì say rượu đã khiến anh ta bị trễ. Vợ anh đang ngồi trên hiên, tay cầm cán lăn bột. Bà nhìn anh với ánh mắt đe dọa và nói: "Đồ ngốc, lại đi uống rượu nữa à? Đến đây để tôi dạy cho một bài học."
Shankaran Pillai là một người đàn ông gầy gò nhưng nhanh nhẹn. Anh ta bước đi ủ rũ về phía bà, nhưng đột nhiên nhảy qua bà và chạy vào nhà. Bà đứng dậy lồm cồm đuổi theo. Anh khiến bà phải chạy khắp nhà, tự tin rằng bà sẽ không bao giờ có thể bắt được anh. Sau một hồi chạy vòng vòng, anh ta lao vào phòng ngủ và trườn dưới gầm giường. Bà vội chạy theo phía sau. Bà là một người phụ nữ lớn và không thể trườn dưới gầm giường. Anh nằm ở đó an toàn, trong khi bà la lớn: "Đồ hèn nhát! Anh đang làm gì dưới gầm giường vậy? Ra đây! Anh có phải là đàn ông hay chuột?"
Shankaran Pillai đáp: "Tôi là người đàn ông của ngôi nhà này. Tôi có quyền tự do nằm xuống bất cứ đâu tôi muốn."
Đó là nơi duy nhất anh ta có thể ở lúc đó, nhưng anh ta cần tuyên bố rằng đó là quyền tự do của mình! Thật không may, hầu hết con người đang làm tương tự như vậy: họ đang gán nhãn cho những sự bắt buộc, những giới hạn của mình là lựa chọn của họ. Nếu bạn có thể vui vẻ làm bất cứ điều gì cần thiết trong một tình huống nhất định, đó là tự do. Nhưng hạn chế bản thân chỉ làm những gì bạn thích là một cách sống cưỡng bức khủng khiếp. Sự cưỡng bức này là chiêu bài của nghiệp - từ ngữ cổ xưa đã bị làm méo mó bởi cách sử dụng phổ biến trên khắp thế giới.
Chính xác thì nghiệp là gì?
"Nghiệp" theo nghĩa đen là "hành động". Hành động có ba loại. Nó có thể là thân thể, tâm trí hoặc năng lượng. Bất cứ điều gì bạn làm với thân thể, tâm trí hay năng lượng của mình, đều để lại một cặn bã nhất định. Cặn bã này hình thành một mô thức riêng của nó, và những mô thức kết quả ấy vẫn ở lại với bạn. Khi bạn tích lũy một khối lượng lớn các ấn tượng, từ từ chúng tạo thành những khuynh hướng, và bạn trở nên giống như một đồ chơi tự động, một nô lệ của các mô thức, một con rối của quá khứ.
Nghiệp giống như một phần mềm cũ mà bạn đã vô tình viết cho chính mình. Tùy thuộc vào loại hành động bạn thực hiện, bạn sẽ viết phần mềm của mình. Một khi bạn viết một loại phần mềm nhất định, toàn bộ hệ thống của bạn sẽ hoạt động theo đó. Dựa trên thông tin từ quá khứ, một số mô hình ký ức nhất định được hình thành và tiếp tục lặp đi lặp lại. Bây giờ, cuộc sống chỉ là một chu kỳ.
Đây là lý do tại sao những mô thức cùng một kiểu cứ lặp đi lặp lại trong cuộc đời bạn. Có một vài biến thể, nhưng cơ bản chúng vẫn giống nhau, lặp lại qua nhiều thế hệ. Sau một thời gian, sự lặp đi lặp lại này có thể trở nên chết người. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng những mô thức này chi phối bạn từ bên trong, không phải từ bên ngoài. Không ai buộc phải kiểm soát bên ngoài đối với bạn cả. Kẻ tự trị bên trong bạn luôn luôn chi phối bạn. Bạn có thể nghĩ rằng ngày mới đã đến. Hoàn cảnh có thể thay đổi, nhưng bên trong bạn vẫn trải nghiệm cùng một điều lặp đi lặp lại. Và vì vậy, càng nhiều thứ thay đổi, chúng càng giữ nguyên như cũ - không phải về mặt vật chất mà là về mặt trải nghiệm! Bạn vô vọng mắc kẹt trong vết xe đổ nghiệp báo.
Tự do bây giờ chỉ là một từ ngữ trống rỗng bởi vì cách bạn suy nghĩ, cảm nhận và hiểu cuộc sống - ngay cả cách bạn ngồi, đứng và di chuyển - đều bị quy định bởi những ấn tượng từ quá khứ. Ngay từ khi bạn chào đời, cha mẹ, gia đình, nền giáo dục, bạn bè, nơi bạn sống và đi đâu - tất cả những điều này đã quyết định mọi thứ về bạn. Nghiệp báo được mã hóa trên mọi khía cạnh của cuộc sống. Nó được khắc ghi trên ký ức tinh thần, nền tảng của cơ thể bạn, hóa học, cả năng lượng của bạn nữa. Tất cả những thứ này đều là hệ thống dự phòng. Ngay cả khi bạn mất thân thể hay tâm trí, bạn vẫn không mất nghiệp báo! Các hệ thống dự phòng hiệu quả đến vậy.
Những gì bạn coi là nhân cách - tập hợp những đặc tính và khuynh hướng mà bạn đang sở hữu - là do thông tin bạn đã vô thức tích lũy. Những khuynh hướng này truyền thống được mô tả là vasanas. Từ "vasana" theo nghĩa đen là "mùi". Tùy thuộc vào loại rác gì trong thùng ngày hôm nay, đó sẽ là loại mùi phát ra từ nó. Tùy thuộc vào bạn tỏa ra mùi gì, bạn sẽ thu hút những tình huống sống nhất định về phía mình.
Giả sử hôm nay có cá thối trong thùng rác. Nó có thể hôi thối đối với bạn, nhưng nhiều sinh vật khác lại bị thu hút bởi nó. Ngày mai, nếu có hoa trong thùng rác, mùi sẽ khác đi và những sinh vật khác nữa sẽ bị thu hút.
Khi tôi lần đầu đến miền Nam thành phố Coimbatore gần 30 năm trước, tôi đã ở nhà một bác sĩ với tư cách khách. Ông ấy là một người vui vẻ hòa đồng và đã kể với tôi một sự việc xảy ra trong gia đình ông. Họ đến từ một vùng ven biển ở Ấn Độ, và cô con gái lớn của ông rất thích cá. Cô ấy đang học phía bắc ở vùng núi Dehradun nơi không có cá để ăn, nên bất cứ khi nào cô về nhà nghỉ lễ, cô đều muốn ăn cá mỗi ngày. Vợ ông là người ăn chay, nhưng bà vẫn nấu cá dù không ăn.
Có một loại cá nhỏ khô đặc trưng mà bạn sẽ biết nếu đến từ vùng đó. Nó có một mùi rất đặc biệt. Nếu nó được chở trên một chiếc xe tải, bạn sẽ muốn lái xe cách xe tải đó 2 dặm hoặc nín thở khi đi qua nó. Nấu nó trong nhà là một chiến lược hiệu quả để đuổi hàng xóm ra khỏi nhà họ! Cô gái này muốn loại cá khô đặc biệt đó được nấu.
Vì vậy, khi họ đang chiên cá khô này, cả ngôi nhà dường như đang bị khói hóa. Mùi hôi đến mức có thể đánh thức cả người chết! Người mẹ đi vào bếp để chỉ cho đầu bếp cách nấu, nhưng ngay khi mùi hôi bắt đầu tỏa ra từ cái chảo chiên, bà chạy ra khỏi bếp vì không chịu nổi. Trong khi đó, cô con gái ngửi thấy mùi đó cũng chạy ra, theo đuổi mùi hương. Cả mẹ và con đâm sầm vào nhau - và người mẹ bị gãy mũi!
Tôi đề cập đến sự việc này không phải như một minh họa cho phần thưởng và hình phạt mà để minh họa cho những hậu quả có thể xảy ra từ sự bám víu và ghét bỏ mạnh mẽ. Khi những thứ này chi phối cuộc sống của bạn, thì sự va chạm nào đó là không thể tránh khỏi. Vasanas, hay những khuynh hướng, được sinh ra bởi sự tích lũy ấn tượng khổng lồ gây ra bởi hành động thể chất, tinh thần và năng lượng của bạn. Cái mà bạn gọi là nhân cách chỉ là sự thể hiện của những khuynh hướng này mà thôi.
Bây giờ, ngày hôm nay nếu bạn đang làm điều gì đó theo một cách nhất định và ai đó hỏi tại sao bạn không thể làm khác đi, thường thì bạn sẽ tuyên bố: "Đây là bản chất của tôi. Tôi không thể làm theo ý muốn của tôi sao?" Đây không phải là bản chất của bạn. Bạn không đang làm theo ý muốn của chính mình. Những khuynh hướng này đã trở nên bắt buộc. Đó là sự trói buộc của bạn, một loại phần mềm mà bạn đang viết cho chính mình mà vô thức. Một khi phần mềm của bạn đã được cố định, thì có vẻ như chỉ có một lối đi duy nhất bạn có thể đi trong cuộc đời mình. Trông có vẻ như số phận của bạn đã được định sẵn. Tuy nhiên, một quá trình tâm linh có nghĩa là chúng ta đã quyết tâm viết lại phần mềm của mình, một cách có ý thức.
Ở Ấn Độ, "nghiệp" là một từ phổ biến. Nếu mọi người thể hiện bất kỳ hành vi bắt buộc nào, người khác sẽ ngay lập tức nói: "Ồ, đó là nghiệp của họ." Điều này có nghĩa là nó do chính họ tạo ra. Sự cay đắng hay ngọt ngào của bất kỳ trải nghiệm nào không nằm ở sự kiện đó chính nó, mà nằm ở cách bạn nhận thức và phản ứng với nó. Điều mà một người coi là trải nghiệm cay đắng lại có thể là một điều may mắn cho người khác.
Một lần, một người đàn ông đau buồn ngồi bên bia mộ, khóc nức nở và đập đầu vào đó. "Cuộc đời tôi! Ôi, thật vô nghĩa biết bao. Thân xác tôi bây giờ chỉ là một cái xác chết vô dụng khi bạn đã ra đi. Giá như bạn còn sống! Giá như định mệnh không tàn khốc như vậy! Giá như bạn đã không ra đi, cuộc đời tôi đã khác biết bao!"
Một nhà tu hành đi ngang qua đã nghe thấy và nói: "Tôi đoán rằng người nằm dưới đống đất này phải là một ai đó rất quan trọng với ông?"
"Quan trọng? Vâng, quả thực là như vậy!" người đàn ông khóc nức nở, gào thét to hơn. "Đó là chồng đầu tiên của vợ tôi!"
Vì vậy, chất lượng cuộc sống của bạn luôn được quyết định bởi cách bạn trải nghiệm cuộc sống, chứ không phải bởi những gì cuộc sống mang lại cho bạn.
Điều quan trọng cần nhớ là nghiệp không phải là một từ ngữ tiêu cực. Nghiệp là điều mang lại sự ổn định và cấu trúc cho cuộc đời bạn. Mỗi khoảnh khắc, những ấn tượng đổ ập vào hệ thống của bạn như những dòng lũ qua năm giác quan của bạn và mỗi ấn tượng đều được ghi lại. Không có gì sai trái với thông tin được lưu trữ này. Nó rất hữu ích cho sự sống còn của bạn. Nếu bạn xóa tất cả những thông tin đó, bạn sẽ không biết cách xử lý ngay cả những khía cạnh đơn giản nhất của cuộc sống. Quá trình tâm linh không tìm cách phá hủy kho lưu trữ những ấn tượng nghiệp báo này, mà giúp bạn trở nên ý thức hơn về nó, và thiết lập một chút không gian cho phép bạn đứng ngoài nó.
Vì vậy, phần mềm của bạn tự nó không phải là vấn đề. Nó chỉ trở thành vấn đề nếu nó trở thành yếu tố chi phối cuộc đời bạn. Nói về nghiệp tốt và nghiệp xấu giống như nói về xiềng xích tốt và xiềng xích xấu. Không có điều đó cả. Nghiệp chỉ là sự sáng tạo của chính bạn. Nó không tốt cũng không xấu. Đó là phần mềm mà có thể trở nên hữu ích nếu bạn có một chút tự do khỏi nó. Đây là tất cả những gì quá trình tâm linh nhắm đến: làm lỏng bỏ sự khống chế của nghiệp lên bạn. Bất kể nghiệp quá khứ của bạn là gì, thì trong một con người vẫn đủ ý thức để hoàn toàn kiểm soát nghiệp ở hiện tại.
Cho đến khi bạn phá vỡ chu kỳ này, không có sự lựa chọn thực sự trong cuộc đời bạn. Đôi khi, bạn có thể cảm thấy mình đã trải qua một bước đột phá. Mọi thứ dường như đã thay đổi, và tất cả đều tuyệt vời trong ba ngày tiếp theo, nhưng đến ngày thứ tư, bạn lại rơi trở lại cái vết xe đổ cũ. Điều này đã xảy ra với bạn nhiều lần phải không? Đó là bởi vì không có tự do suy nghĩ, cảm xúc, hành động, và trên hết là không có tự do trải nghiệm khi bạn vẫn trong sự khống chế của nghiệp báo.
Đồng thời, tránh né nghiệp báo cũng không phải là câu trả lời. Sự né tránh có thể mang lại cho bạn một chút cân bằng và ổn định trong cuộc sống hàng ngày, nhưng dần dần nó sẽ làm bạn mất đi sự sống và niềm vui. Đây chính là một nghiệp báo tiêu cực. Phủ nhận, đàn áp hay né tránh cuộc sống mang lại nhiều sự trói buộc hơn là tự do. Ý muốn "Tôi không muốn nghiệp báo" chính là một nghiệp báo lớn!
Chính quá trình sống là sự tan rã nghiệp báo. Nếu bạn sống trọn vẹn từng khoảnh khắc của cuộc đời mình, bạn tan rã một lượng nghiệp báo khổng lồ. Khi bạn trải nghiệm tuyệt đối mọi thứ đến với bạn, khi bạn trải nghiệm từng hơi thở cuộc sống với cường độ tột cùng, không bị xao lãng bởi suy nghĩ và cảm xúc, không có bất kỳ drama tâm lý nào, bạn được giải thoát khỏi chính quá trình sinh tử. Bạn không chỉ sống động hơn; chính bạn là sự sống.
Yoga cung cấp một cách để bạn tách mình ra không chỉ khỏi nghiệp báo, mà còn khỏi chính nguồn gốc của nghiệp báo, đó là trí tuệ phân biệt. Nó mang lại cho bạn sự lựa chọn trong từng khoảnh khắc hiện hữu để trở thành nạn nhân, người quan sát hay chính là ông chủ của cuộc đời mình. Với một lượng nỗ lực và thực hành nhất định, tất cả chúng ta đều có thể viết phần mềm niềm vui và hạnh phúc cho chính mình.
Sadhana
Khi bạn nhận ra rằng tất cả những thành tựu vật chất của bạn chỉ có giá trị khi so sánh với những người không có chúng, đây là niềm vui phát xuất từ sự thiếu thốn của người khác. Bạn có thực sự gọi đó là niềm vui không? Nó không thực sự là một loại bệnh tật à? Đã đến lúc mọi người giải quyết vấn đề này. Nếu bạn là người duy nhất trên hành tinh này, bạn sẽ muốn gì cho chính mình? Hãy tự hỏi bản thân câu hỏi này và xem nó đưa bạn đến đâu.
Hãy thử điều này. Ngồi một mình 5 phút và xem cuộc đời của bạn sẽ như thế nào nếu bạn hoàn toàn một mình trên thế giới này. Nếu không có ai hay bất cứ thứ gì để so sánh bản thân, bạn thực sự khao khát điều gì? Điều gì thực sự quan trọng với bạn nếu không có sự đánh giá hay phê bình bên ngoài? Nếu bạn làm điều này hàng ngày, bạn sẽ thẳng hàng với những khát khao của chính sinh mệnh bạn đang sống, thay vì là đống rối nghiệp báo tích lũy mà bạn tin mình đang là.
The Mechanics of Life
Về cơ bản, kriya có nghĩa là "hành động nội tâm". Một hành động nội tâm là hành động không liên quan đến cơ thể, tâm trí hoặc chiều kích vật lý của năng lượng. Như chúng ta đã đề cập trước đây, cơ thể và tâm trí là của bạn, nhưng vẫn bên ngoài bạn. Bạn đã tích lũy cả hai từ bên ngoài: cơ thể là sự tích lũy của thực phẩm, và tâm trí là sự tích lũy của ý tưởng. Ngay cả những dấu ấn trên cơ thể năng lượng cũng là sự tích lũy ấn tượng từ năm giác quan. Khi bạn có khả năng thực hiện hành động với khía cạnh phi vật lý của năng lượng, thì nó được gọi là "kriya". Tất cả những điều này có vẻ hơi huyền bí, nhưng chỉ khi bạn được khởi đầu bởi người nào đó có năng lực thống trị lĩnh vực năng lượng thì việc thực hành kriya mới trở nên khả thi.
Nếu hành động của bạn được thể hiện ra bên ngoài, liên quan đến cơ thể, tâm trí và chiều kích vật lý của năng lượng, đó là nghiệp. Nhưng nếu bạn hướng nội và thực hiện một hành động vượt ra ngoài mọi chiều kích vật lý, đó là kriya. Nghiệp là quá trình trói buộc bạn. Kriya là quá trình giải thoát bạn. Khía cạnh quan trọng nhất của yoga luôn là thực hiện hành động vượt ra ngoài các chiều kích vật lý của năng lượng. Trong bốn chiều kích vật lý, bạn ý thức nhiều nhất về hành động của cơ thể, ít hơn về tâm trí, ít hơn nữa về cảm xúc, và ý thức tối thiểu về năng lượng. Ngay khi bạn học cách thực hiện hành động với khía cạnh phi vật lý của năng lượng sống, bạn đột nhiên chuyển sang một tầm tự do mới bên trong và bên ngoài chính mình.
Làm thế nào để bạn tiếp cận được khía cạnh phi vật lý của năng lượng sống? Những thực hành yoga, bao gồm tư thế, hơi thở, thái độ của tâm trí và kích hoạt năng lượng, đều hướng tới việc liên kết ba lớp đầu tiên của cơ thể: thể chất, tâm trí và năng lượng. Chỉ bằng cách liên kết chúng thì bạn mới tìm được lối vào các chiều kích vượt ra khỏi vật lý - tới chính năng lượng sống cơ bản.
Tôi đã chứng kiến không ít người khi bắt đầu thực hiện một kriya đơn giản, đột nhiên họ trở nên sáng tạo đến mức có thể đạt được những điều mà trước đây họ không bao giờ tưởng tượng nổi trong cuộc đời mình. Điều này chỉ đơn giản là bởi họ đã làm lỏng lớp nền nghiệp báo của mình một chút. Họ đã lay động năng lượng sống của mình để thay đổi, thay vì bị vướng mắc với các quá trình vật lý của cơ thể, tâm trí và năng lượng. Đây là điều mà bất kỳ người nào cũng có thể học cách làm.
Kriya yoga là một cách rất mạnh mẽ để đi trên con đường tâm linh, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi rất nhiều nỗ lực. Đối với nhiều người thành thị hiện đại không quen sử dụng cơ thể một cách linh hoạt, kriya yoga có vẻ gian nan và phi người. Điều này là vì các kriya rất phức tạp và đòi hỏi rất nhiều kỷ luật, tập trung và chính xác. Hầu hết mọi người đều không có thân thể, thái độ hay trạng thái cảm xúc ổn định để đi theo con đường yoga này, chủ yếu là bởi họ quen sống, ngay từ khi còn nhỏ, trong trạng thái thoải mái vĩnh viễn. Quen với một mức độ thoải mái về thể chất không phải là vấn đề. Nhưng liên tục đi tìm sự thoải mái: đây mới là vấn đề lớn. Loại thái độ và cảm xúc đó không phù hợp với con đường kriya yoga.
Hơn nữa, kriya yoga không thể được thực hành với những người luôn nói về "tự do". Nó không dành cho những người cứ hỏi: "Tại sao tôi không được tự do ăn kem? Tại sao tôi không được tự do thức dậy bất cứ lúc nào tôi muốn? Tại sao tôi không được tự do ăn, uống hay quan hệ tình dục với bất cứ thứ gì, với bất cứ ai, bất cứ lúc nào tôi muốn?" Nếu bạn chọn con đường kriya, một kỷ luật căn bản nhất định phải được đưa vào tất cả các quá trình thể chất, tâm lý và cảm xúc. Nếu bạn muốn đạt đỉnh cao của ý thức, kỷ luật này là điều thiết yếu. Bạn không thể chơi bời đến tối khuya rồi hôm sau cố gắng leo lên đỉnh Everest! Cùng một lô-gic được áp dụng ở đây.
Khi bạn được truyền dạy một chương trình kriya yoga nhất định, bạn phải tuân theo nó. Bạn có thể hiểu được sự cần thiết của kỷ luật khi bạn tiếp tục thực hành, nhưng nó sẽ không bao giờ được giải thích hoàn toàn. Và nếu nó phải được giải thích, tinh túy của kriya sẽ bị mất đi. Điều này là bởi vì kriya là một công cụ để vượt qua khuôn khổ của lô-gic và trải nghiệm để tiếp cận những chiều kích phi vật lý được coi là tâm linh hay huyền bí.
Nếu tôi muốn dạy bạn những kriya chỉ như những bài tập, sẽ rất đơn giản để đưa chúng vào một cuốn sách mà từ đó bạn có thể học và ghi nhớ. Nhưng để kriya trở thành một quá trình sống, để được khắc ghi vào hệ thống của bạn theo một cách nhất định, nó cần một chút kỷ luật, sự cống hiến và sự tiếp nhận. Khi bạn đi trên một miền đất hoàn toàn mới, nếu không có niềm tin vào người hướng dẫn bạn, thì hành trình sẽ trở nên dài dòng và khó khăn một cách không đáng có.
Thông thường, trên con đường kriya, hầu hết các Guru đều khiến đệ tử phải chờ đợi. Truyền thống khi học trò đến với Guru để học kriya yoga, họ có thể được yêu cầu quét nhà trong một năm, rồi sau đó rửa chén trong một năm nữa! Nếu niềm tin của họ vẫn không lung lay, lúc đó Guru mới cân nhắc truyền dạy cho họ các kriya. Có lý do cho điều này. Một khi bạn trao quyền năng cho mọi người theo một cách nhất định khiến hệ thống của họ trở nên rung động vượt quá tiêu chuẩn bình thường, họ có thể gây ra tổn hại lớn cho chính mình nếu thái độ và cảm xúc của họ không được như yêu cầu. Nhưng trong thế giới ngày nay, để có được thời gian như vậy với mọi người, để đạt được loại lòng tin đó và sau đó khắc ghi những kriya này, thật khó khăn. Không phải là bất khả thi, nhưng cơ hội là hiếm có.
Tôi đã dành 21 năm cuộc đời để biến đổi một kriya mạnh mẽ, Shambhavi Mahamudra, để nó có thể được truyền dạy cho nhiều người trong thế giới ngày nay. Một số khía cạnh có thể trao quyền năng cho mọi người gây hại cho chính họ hoặc người khác, hoặc tác động đến các nguyên tố xung quanh, đã được tường lửa bảo vệ, chỉ còn lại những lợi ích về thể chất, tâm lý và tâm linh. Trong hai thập kỷ đó, tôi cố ý tránh xa mọi hình thức tiếp xúc với công chúng, bởi vì toàn bộ sự tập trung của tôi chủ yếu là tái thiết kế lại kriya để đảm bảo rằng nó có thể được truyền dạy rộng rãi mà không gây ra bất kỳ tác dụng phụ nào.
Kriya yoga như một con đường hoàn chỉnh chỉ quan trọng đối với những người quan tâm đến việc khám phá các chiều kích huyền bí. Nếu mối quan tâm của bạn chỉ là sức khỏe hoặc nếu bạn chỉ đang tìm kiếm sự giác ngộ, các kriya có thể được sử dụng một cách nhỏ nhẹ. Nhưng kriya yoga như một con đường duy nhất không cần thiết vì nó đòi hỏi quá nhiều nỗ lực.
Nếu bạn theo con đường kriya rất khắt khe mà không có sự hướng dẫn, có thể phải mất vài kiếp mới sinh quả. Nếu bạn có người chủ động hướng dẫn quá trình này, kriya có thể là một cách mạnh mẽ và tuyệt vời nhất để khám phá bản chất nội tâm và hiện tượng huyền bí. Nếu không, kriya là một lối đi hơi vòng vo. Điều bạn đang tìm kiếm trên con đường này không chỉ là sức khỏe, niềm hạnh phúc hay sự giác ngộ. Thay vào đó, bạn muốn biết chính cơ chế của sự tạo ra sự sống; bạn muốn biết về cấu trúc kỹ thuật của cuộc sống. Đó là lý do tại sao nó là một quá trình dài hơn nhiều.
Những người đi theo con đường kriya có một loại hiện diện hoàn toàn khác biệt về họ do sự thống trị các năng lượng của mình. Họ có thể tháo gỡ cuộc sống và lắp ráp lại nó. Nếu bạn theo con đường trí tuệ (gnana), trí tuệ của bạn có thể trở nên sắc bén như dao cạo, nhưng bạn vẫn không thể làm quá nhiều với các năng lượng của mình. Tương tự, trên con đường sùng kính (bhakti), bạn không thể làm được nhiều với các năng lượng của mình. (Cũng không quan tâm lắm, vì sự ngọt ngào mãnh liệt của cảm xúc bạn mới là điều quan trọng nhất; bạn chỉ muốn tan biến vào đối tượng của sự sùng kính mình.) Nếu bạn đi trên con đường karma, bạn có thể làm nhiều việc trong thế giới bên ngoài, nhưng bạn không thể làm gì với chính mình. Ngược lại, những người tập kriya yoga có thể làm bất cứ điều gì họ muốn với thế giới bên trong của mình, và cũng đạt được rất nhiều thành tựu trong thế giới bên ngoài.
Sadhana
Chính cách thức cấu trúc nghiệp báo hoạt động trong mọi con người đều mang tính chu kỳ cơ bản. Nếu bạn quan sát rất kỹ, trong một ngày cùng một chu kỳ diễn ra nhiều lần. Nếu bạn rất quan sát, bạn sẽ thấy rằng cứ 40 phút bạn lại trải qua một chu kỳ sinh lý. Một khi bạn nhận ra điều đó, thì với sự chú ý và ý thức cần thiết, bạn có thể đi theo chu kỳ và tiến tới vượt qua giới hạn mà những chu kỳ này đặt ra. Vì vậy, cứ 40 phút, cuộc sống mang lại cho bạn một cơ hội - cơ hội trở nên có ý thức.
Cứ 40 đến 48 phút, cũng có sự thay đổi về sự chiếm ưu thế trong cách hơi thở đi qua lỗ mũi bên phải và bên trái. Ưu thế ở lỗ mũi bên phải trong một khoảng thời gian, rồi sau đó ở bên trái. Hãy ý thức về điều này để ít nhất bạn biết có một phần gì đó trong bạn đang thay đổi. Sự ý thức này có thể được nâng cao thêm thành ý thức về ảnh hưởng của mặt trăng và mặt trời lên cơ thể. Nếu bạn đồng bộ hóa hệ thống vật lý của mình với chu kỳ mặt trăng và mặt trời, sức khỏe thể chất và tâm lý của bạn sẽ được đảm bảo.
The Energy Labyrinth
Hệ thống yoga mang lại cho chúng ta một cái nhìn toàn diện và chi tiết về giải phẫu của cơ thể năng lượng con người. Nó đã lập bản đồ 72.000 kinh mạch (hay nadi, như cách gọi) trong hệ thống năng lượng. Prana, hay năng lượng, đi qua những kinh mạch này. 72.000 kinh mạch này bắt nguồn từ ba kinh mạch cơ bản. Kinh mạch bên phải được gọi là pingala, bên trái là ida, và kinh mạch ở giữa là sushumna.
Ba kinh mạch này là nền tảng của hệ thống năng lượng. Pingala được tượng trưng là nam giới và ida được tượng trưng là nữ giới. "Nam" và "nữ" ở đây không đề cập đến sự khác biệt về mặt sinh học, mà là những phẩm chất nhất định trong tự nhiên được nhận diện như vậy. Những phẩm chất này được thể hiện bởi hai kinh mạch này.
Nếu kinh mạch pingala của một người rất rõ nét, thì những phẩm chất hướng ngoại, khám phá sẽ chiếm ưu thế. Nếu kinh mạch ida chiếm ưu thế hơn, những phẩm chất tiếp nhận và suy ngẫm sẽ chiếm ưu thế. Việc người đó là nam hay nữ không liên quan gì. Bạn có thể là nam nhưng kinh mạch ida lại chiếm ưu thế; bạn có thể là nữ nhưng kinh mạch pingala lại chiếm ưu thế.
Pingala và ida cũng được tượng trưng là mặt trời và mặt trăng - mặt trời đại diện cho nam tính, mặt trăng đại diện cho nữ tính. Mặt trời mạnh mẽ và hướng ngoại; mặt trăng tiếp nhận và phản chiếu. Các chu kỳ của mặt trăng cũng gắn liền sâu sắc với cơ thể nữ giới. Trên bình diện tâm trí, pingala đại diện cho chiều kích logic; ida đại diện cho chiều kích trực giác. Hai đối cực này là nền tảng của bầu trời vật lý trong cuộc sống. Con người chỉ trọn vẹn khi cả nam lẫn nữ đều hoạt động hết sức và cân bằng một cách thích hợp.
Sushumna, kinh mạch ở giữa, là khía cạnh quan trọng nhất của sinh lý của bạn, nhưng nó thường bị bỏ qua. Nó độc lập với 72.000 kinh mạch khác, nhưng lại là trục xoay của toàn bộ hệ thống. Một khi các năng lượng bước vào kinh mạch sushumna của bạn, bất kể điều gì đang xảy ra xung quanh, bạn sẽ có một sự cân bằng nhất định. Ngay bây giờ, bạn có thể khá cân bằng, nhưng nếu tình huống bên ngoài gây ra thách thức, bạn cũng sẽ bị xáo trộn. Tuy nhiên, một khi năng lượng bước vào kinh mạch sushumna, cách thức bên trong của bạn sẽ trở nên độc lập với bên ngoài, bởi vì nó độc lập với 72.000 kinh mạch khác.
Ngày nay, có rất nhiều nói về "luân xa". "Luân xa" có nghĩa là "bánh xe", và có một ý nghĩa và tầm quan trọng rất cụ thể trong hệ thống yoga. Ngày nay có những "trung tâm chỉnh hợp bánh xe" tuyên bố có thể cân bằng các luân xa của bạn, thanh lọc các chướng ngại, và chữa lành cho bạn các bệnh tật, quá khứ, hiện tại và tương lai. Rất nhiều người đang "làm" các luân xa ngày nay. Nó đã trở thành một trào lưu lớn, nhưng có thể rất nguy hiểm. Đã đến lúc tiếp cận chủ đề vi tế này một cách cẩn thận và chính xác.
Các kinh mạch không có biểu hiện vật lý. Nếu bạn mổ xẻ cơ thể và nhìn bên trong, bạn sẽ không tìm thấy chúng. Nhưng khi bạn trở nên ý thức hơn, bạn sẽ nhận thấy rằng năng lượng không di chuyển ngẫu nhiên mà theo các đường dẫn đã được thiết lập.
Các luân xa là những trung tâm mạnh mẽ trong sinh lý nơi các kinh mạch gặp nhau theo một cách đặc biệt để tạo ra một vòng xoáy năng lượng. Giống như các kinh mạch, các luân xa có bản chất vi tế và không có sự tồn tại vật lý. Chúng luôn gặp nhau dưới hình dạng tam giác (không phải hình tròn, như từ "luân xa" gợi ý). Bộ phận chuyển động trong một cỗ máy luôn là hình tròn, bởi vì hình tròn có khả năng di chuyển với sự cản trở ít nhất. Những trung tâm năng lượng này được đặt tên như vậy bởi vì bánh xe gợi ý sự chuyển động hay tính năng động.
Có 114 luân xa trong cơ thể. Hai ở bên ngoài cơ thể và 112 ở bên trong cơ thể. Trong số 112 luân xa này, có 7 luân xa chính. Đối với hầu hết mọi người, 3 trong số đó đang hoạt động; số còn lại hoặc là đang ngủ yên hoặc hoạt động nhẹ. Bạn không cần kích hoạt tất cả 114 luân xa để sống một cuộc sống vật lý. Bạn có thể sống một cuộc sống khá trọn vẹn với chỉ một vài luân xa. Nếu bạn kích hoạt tất cả 114 luân xa, bạn sẽ không có cảm giác về cơ thể. Mục đích của yoga là kích hoạt hệ thống năng lượng của bạn theo một cách để ý thức về cơ thể của bạn ngày càng giảm dần, để bạn có thể ngồi đây trong cơ thể, nhưng không còn là cơ thể nữa.
Ở miền Nam Ấn Độ, có một nhà yoga huyền thoại tên là Sadashiva Brahmendra. Ông là một nirkaya, theo nghĩa đen là "vị yoga không cơ thể". Ông không có cảm giác về cơ thể. Mặc quần áo thậm chí không xảy ra với một người trong tình trạng như vậy. Ông chỉ đi khắp nơi với tình trạng khỏa thân. Cũng trong tình trạng đó, ông không có cảm giác về nhà cửa, tài sản hay ranh giới vật lý.
Một ngày nọ, ông tình cờ đi vào vườn nhà vua bên bờ sông Kaveri. Nhà vua đang ngồi đó, thư giãn với các cung phi. Sadashiva Brahmendra đi vào vườn, không hề ý thức về sự khỏa thân của mình. Nhà vua tức giận điên cuồng. "Ai là kẻ ngốc dám đi khỏa thân trước mặt phụ nữ của ta?"
Ông sai lính đuổi theo. Những người lính chạy theo Sadashiva Brahmendra, gọi với ông. Ông không quay lại. Ông tiếp tục đi. Tức giận, một trong những người lính rút kiếm đâm vào ông, đứt lìa cánh tay phải. Sadashiva Brahmendra thậm chí không giật mình. Ông tiếp tục đi.
Chứng kiến điều này, những người lính kinh ngạc và hoảng sợ. Họ nhận ra đây không phải là một người bình thường. Nhà vua và lính tráng chạy theo ông, quỳ xuống, van xin tha thứ, và đưa ông trở lại vườn. Ông sống trong vườn đó cho đến hết cuộc đời và cuối cùng từ bỏ xác thân tại đó.
Có vô số trường hợp tương tự như thế trong truyền thống yoga. Khi năng lượng của bạn ở trạng thái tăng cao, cảm giác về cơ thể vật lý giảm đến mức thậm chí có thể không cần bất kỳ chất dinh dưỡng bên ngoài trong nhiều ngày liền.
Vai trò chính xác của các luân xa trong hệ thống là gì?
Có bảy luân xa cơ bản: mūlādhāra, được đặt ở khoang miệng bởi sự gặp nhau của các kinh mạch cơ bản; swādhishthāna, ngay phía trên cơ quan sinh dục; manipuraka, ba phần tư inch dưới rốn; anāhata, bên dưới điểm giao nhau của xương sườn và cơ hoành; vishuddhi, ở hõm thanh quản; ājñā, ở giữa hai lông mày; và sahasrara, còn được gọi là brahmarandra, ở khẩu khổng trên đỉnh đầu (nơi trẻ sơ sinh có một chỗ mềm).
Các luân xa là bảy chiều kích khác nhau mà qua đó năng lượng của bạn tìm được biểu đạt. Những trải nghiệm xảy ra bên trong bạn - sân hận, khổ đau, bình an, niềm vui và khấy động - là những cấp độ biểu đạt khác nhau của năng lượng sống của bạn. Nếu năng lượng của bạn chiếm ưu thế ở luân xa mūlādhāra, thì thực phẩm và giấc ngủ sẽ là những yếu tố chi phối cuộc đời bạn nhất. Nếu năng lượng của bạn chiếm ưu thế ở swādhishthāna, khoái lạc sẽ là điều chi phối cuộc đời bạn nhất; điều này có nghĩa là bạn tận hưởng thực tại vật lý của mình theo nhiều cách. Nếu năng lượng của bạn chiếm ưu thế ở manipuraka, bạn là một người hành động; bạn có thể hoàn thành nhiều việc trong thế giới. Nếu năng lượng của bạn chiếm ưu thế ở anāhata, bạn là một người rất sáng tạo. Nếu năng lượng của bạn chiếm ưu thế ở vishuddhi, bạn sẽ phát triển một hiện diện quyền năng. Nếu năng lượng của bạn chiếm ưu thế ở ājñā, thì bạn đạt được sự giác ngộ trí tuệ. Sự giác ngộ trí tuệ có thể đưa bạn đến một trạng thái bình an và ổn định nội tâm nhất định, bất kể điều gì đang xảy ra bên ngoài bạn.
Đây chỉ là những mức độ cường độ khác nhau. Một người đam mê khoái lạc có cường độ cuộc sống cao hơn một người mà cuộc sống chỉ là ăn và ngủ. Người muốn khởi xướng điều gì đó trên thế giới có cường độ nhiều hơn một người đam mê khoái lạc. Một nghệ sĩ hay người sáng tạo sống cuộc đời của họ một cách mãnh liệt hơn so với ba người kia. Nếu bạn chuyển sang luân xa vishuddhi, đó là một chiều kích cường độ hoàn toàn khác và ājñā còn cao hơn nữa. Nếu bạn đạt đến luân xa sahasrara, bạn sẽ bùng nổ trong những trạng thái khấy động không giải thích được. Không có bất kỳ kích thích hay lý do bên ngoài, bạn chỉ đơn giản là hân hoan bởi năng lượng của bạn đã chạm đến một đỉnh cao nhất định.
Nói về các luân xa thấp và cao là một cách nói gây hiểu lầm. Giống như so sánh nền móng của một tòa nhà với mái nhà. Mái nhà không cao quý hơn; nền móng không tầm thường hơn. Chất lượng, tuổi thọ, sự ổn định và an toàn của một tòa nhà phụ thuộc rất nhiều vào nền móng hơn là mái nhà. Ví dụ, trong cơ thể vật lý, năng lượng của bạn cần ở luân xa mūlādhāra ở một mức độ nào đó. "Mūla" có nghĩa là gốc rễ hoặc nguồn gốc, và "ādhāra" có nghĩa là nền tảng. Trong cơ cấu của cơ thể, đây là nền tảng. Nếu bạn muốn lớn lên, bạn cần phải trau dồi điều này.
Đồng thời, các luân xa cũng có một chiều kích tâm linh, không chỉ vật lý. Nếu bạn đưa đúng mức ý thức vào đó, chính luân xa mūlādhāra này có thể được biến đổi đến một điểm mà bạn trở nên hoàn toàn tự do khỏi nhu cầu bắt buộc về thực phẩm và giấc ngủ.
Các luân xa rơi vào một trong hai chiều kích khác nhau: luân xa gốc rễ (muladhara), luân xa tính dục (swadhishthana), luân xa rún (manipuraka) và các luân xa liên quan khác thì quan tâm nhiều hơn đến việc giữ cho cơ thể ổn định và bám rễ. Đây là những phẩm chất gắn liền với trái đất, với sự tự bảo tồn bản thân. Khi năng lượng của bạn thống trị trong các luân xa này, các phẩm chất của bạn rất trần tục và bạn sẽ bị cuốn hút bởi thiên nhiên. Các luân xa trên - luân xa cổ họng (vishuddhi), luân xa đính đầu (agna), luân xa bát nhã (sahasrara) và các luân xa liên quan - là những trung tâm khiến bạn thoát khỏi sự hấp dẫn của trái đất. Chúng liên quan đến khát vọng vô tận. Chúng giúp bạn đón nhận một nguồn lực mà thông thường chúng ta gọi là ân sủng.
Luân xa giữa, luân xa tim (anahata), là sự cân bằng giữa hai chiều kích đó. Nó giống như sự chuyển tiếp giữa luân xa dưới và luân xa trên của bạn, giữa bản năng sinh tồn và bản năng giải thoát. Nó được tượng trưng bởi hai tam giác đan xen, một tam giác hướng xuống và một tam giác hướng lên, tạo thành một ngôi sao sáu cánh. Nhiều truyền thống tôn giáo đã sử dụng biểu tượng ngôi sao như một biểu tượng thiêng liêng, bởi vì một số bậc giác ngộ trong các nền văn hóa này đã nhận ra bản chất nguyên thủy của họ thông qua luân xa tim, và khám phá ra hai tam giác đan xen của luân xa này bên trong chính họ.
Luân xa cổ họng (vishuddhi), nằm ở hõm cổ, có nghĩa đen là "bộ lọc". Nếu luân xa cổ họng của bạn trở nên mạnh mẽ, bạn sẽ có khả năng lọc mọi thứ đi vào bạn. Hoặc nói cách khác, một khi luân xa cổ họng của bạn rất hoạt động, bạn trở nên mạnh mẽ đến nỗi thiên nhiên bên ngoài không ảnh hưởng gì đến bạn. Tượng Adiyogi hay Shiva trong nghệ thuật Ấn Độ có cổ màu xanh lam, bởi vì ngài có khả năng lọc tất cả các chất độc của thế giới bên ngoài và ngăn chúng xâm nhập vào hệ thống của ngài bằng cách kẹt chúng lại ở cổ họng.
Nếu năng lượng của bạn chuyển đến luân xa đính đầu (agna), nằm giữa hai lông mày, bạn sẽ được khai sáng về trí tuệ, nhưng vẫn chưa được giải thoát trên phương diện trải nghiệm. Nhà triết học đại thi hữu nổi tiếng của Ấn Độ thế kỷ thứ 8 là Adi Shankara đã đi khắp cả vùng đất, đánh bại hàng loạt học giả trong các cuộc tranh luận siêu hình học. Lô-gích của ông không ai bì kịp, bởi vì sự hợp nhất được trải nghiệm trong luân xa agna ban cho người ta một cấp độ phi thường về trí tuệ và nhận thức.
Luân xa thứ bảy, luân xa bát nhã (sahasrara), thực ra nằm bên ngoài cơ thể. Đối với hầu hết mọi người, nó vẫn đang ngủ yên. Thông qua tu luyện tâm linh hoặc một lối sống cực kỳ khắc khổ, bạn có thể kích hoạt luân xa này. Nếu bạn đạt được luân xa bát nhã, trải nghiệm của bạn sẽ không còn chỉ trên phương diện trí tuệ mà còn về trải nghiệm thực tế. Bạn sẽ bùng nổ vào trong những khoảnh khắc hỷ lạc vô giải thích và bắt đầu mở ra những cõi huyền bí sâu xa nhất. Đôi khi bạn có thể đạt được những hỷ lạc có thể trở nên không kiểm soát nếu không có đủ sự tu luyện tâm linh để tạo ra sự cân bằng sinh lý và tâm lý cần thiết. Trong truyền thống Ấn Độ, những nhà huyền môn hứng khởi này được gọi là avadhutas. Họ trong những trạng thái ý thức biến đổi đến mức thường phải được nuôi dưỡng và chăm sóc bởi những người xung quanh bởi vì họ không có khả năng tự xử lý các khía cạnh thế tục của cuộc sống.
Về cơ bản, bất kỳ con đường tâm linh nào cũng có thể được mô tả là hành trình từ luân xa gốc rễ (muladhara) đến luân xa bát nhã (sahasrara), là sự tiến hóa từ chiều kích này sang chiều kích khác. Trong hệ thống yoga có một phạm vi rộng lớn các thực hành tâm linh cho phép người ta di chuyển năng lượng của mình từ luân xa này sang luân xa khác. Tuy nhiên, từ luân xa đính đầu (agna) đến luân xa bát nhã (sahasrara), không có con đường nào. Bạn phải nhảy hoặc rơi vào đó.
Đây là một trong những lý do tại sao trong truyền thống tâm linh Ấn Độ lại đặc biệt nhấn mạnh vào vai trò của guru. Để vượt qua từ agna đến sahasrara cần có lòng tin tưởng vô cùng lớn. Giả sử bạn đứng trước một vực thẳm không đáy, và ai đó yêu cầu bạn nhảy xuống, bạn sẽ phải hoàn toàn điên rồ, có lòng can đảm phi thường, hoặc hoàn toàn tin tưởng mới có thể làm được điều đó. Hầu như không ai có đủ can đảm cần thiết. Rất ít người đủ điên rồ để sống cuộc sống của mình một cách hoàn toàn buông bỏ; hầu hết mọi người sống một cách cẩn trọng và với nhu cầu bảo vệ ranh giới của họ. Vì vậy, đối với 99,9% mọi người, điều cần thiết là lòng tin. Không có lòng tin, họ sẽ không bao giờ thực hiện được bước nhảy.
Tuy nhiên, vực thẳm không cần phải gợi lên những hình ảnh đen tối của một hố sâu kinh hoàng. Thay vào đó, nó biểu thị một không gian không có bất kỳ khả năng gây tổn thương và đau khổ nào, một chiều không gian hoàn toàn mới không lặp lại, một chiều không gian vượt xa so sánh và ngữ cảnh, nơi bạn không còn là một cá thể mà trở thành bản chất vô hạn bao trùm mọi thứ, trong một sự tĩnh lặng vượt qua cả niềm hạnh phúc. Và vì thế, bước nhảy đó xứng đáng. Bước nhảy đó là tất cả. Với bước nhảy đó, vực thẳm không đáy trở thành sự tự do vô biên.
Sadhana
Bằng cách tập trung vào một điểm cách vùng giữa hai lông mày của bạn từ sáu đến chín inch trong khoảng từ mười hai đến bốn mươi tám phút, với mắt mở, bạn có thể nhận ra bản chất và cấu trúc của các luân xa cá nhân của mình (tùy thuộc vào thời gian và mức độ tập trung của bạn). Sự nhận thức này có thể giúp ổn định sự di chuyển ngẫu nhiên của các luân xa trong cơ thể người do các tình huống căng thẳng bên ngoài. Đây chỉ là một khía cạnh của một hình thức kriya yoga rất tinh vi, cho phép bạn truy cập vào chiều không gian akashic, hay etheric, bên trong của mình.
UNCHARTED PATH
Chi thứ sáu của yoga được gọi là dhyana, hay dhyan, về cơ bản là vượt ra khỏi giới hạn thể chất và tinh thần của chính mình. Dhyan đã du nhập từ Ấn Độ sang Trung Quốc cùng với các nhà sư Phật giáo, nơi nó được gọi là Thiền. Yoga này lan sang các nước Đông Nam Á đến Nhật Bản và trở thành Thiền, được biểu hiện dưới dạng một hệ thống trực nhận trực tiếp mà không nhấn mạnh vào giáo lý. Thiền là một con đường tâm linh không có kinh sách, sách vở, quy tắc hay nghi lễ cứng nhắc; nó là một con đường chưa được khám phá.
Ghi chép đầu tiên về phương pháp chúng ta gọi là Thiền đã xuất hiện cách đây gần 8.000 năm, lâu trước thời vua Phật Thích Ca. Vua Janaka là một người thông minh, một người tìm đạo thiết tha, thiêu đốt bởi khát vọng được giác ngộ. Ông đã tìm hết các bậc thầy tâm linh trong vương quốc. Không ai giúp được ông vì tất cả đều bắt nguồn từ sách vở. Ông vẫn chưa gặp được ai đến từ kinh nghiệm nội tâm.
Một ngày nọ, nhà vua đi săn. Cưỗi ngựa đi sâu vào rừng rậm, ông trông thấy một nhà yoga. Ông dừng lại. Ngồi bên ngoài một khu ẩn cư nhỏ là Ashtavakra, một trong những nhà yoga và bậc thầy tâm linh vĩ đại nhất mọi thời đại. Janaka chuẩn bị xuống ngựa để chào hỏi. Ông vấn chân qua yên ngựa và sắp nhảy xuống thì Ashtavakra nói: "Dừng lại!"
Vậy là Janaka dừng ngay tại đó, một chân vẫn trên bàn đạp, chân kia giữa không trung. Đó là một tư thế khó chịu, nhưng Janaka đứng im nhìn Ashtavakra. Chúng ta không biết vị thầy giữ ông như vậy bao lâu, nhưng bỗng nhiên trong tư thế khó khăn ấy, Janaka đạt được giác ngộ trọn vẹn. Phương pháp Ashtavakra sử dụng tương tự như điều được gọi là Thiền ngày nay trên thế giới.
Có lần xảy ra... Có một vị thiền sư được mọi người tôn kính nhưng không có gì để truyền dạy. Ông luôn mang trên vai một cái bao to chứa đủ thứ đồ vật, trong đó có kẹo bánh. Ở bất cứ thị trấn, làng mạc nào ông đến, trẻ con đều tụ tập quanh ông và ông sẽ phát kẹo bánh rồi ra đi. Mọi người xin ông truyền dạy nhưng ông chỉ cười và đi tiếp.
Một ngày nọ, một người cũng là một thiền sư có danh tiếng đến gặp ông. Người này muốn xác định xem ông ta có thực hành Thiền hay không. Vì vậy, ông hỏi: "Thiền là gì?" Ngay lập tức, người kia thả cái bao xuống và đứng thẳng lên.
Rồi người hỏi: "Mục đích của Thiền là gì?" Người kia nhấc cái bao lên, vác trên vai và đi mất.
Đây chính là điều mà yoga cũng hướng tới. Đây là điều mà mọi tu luyện tâm linh cũng hướng đến. Khi bạn muốn đạt được yoga hay Thiền, bạn phải buông bỏ gánh nặng, vất bỏ mọi thứ trên đường đi, đứng thẳng một cách tự do. Điều này rất quan trọng. Với gánh nặng trên vai, bạn sẽ không bao giờ làm được. Và mục đích của yoga là gì? Một cách có ý thức, bạn lại vác lấy cả gánh nặng ấy. Và từ đó nó không còn là gánh nặng nữa!
Sacred Science
Việc hiến thánh hay ban phước cho một không gian có nghĩa là gì?
Từ "hiến thánh" thường được sử dụng một cách khá thoáng. Với đa số mọi người, nó biểu thị một chuỗi nghi lễ chỉ mang đến vẻ đẹp, thi vị cho cuộc sống, nhưng không thực hiện được công năng hữu ích nào. Phần lớn tin rằng đó chỉ là những lời lẽ mù mờ nhằm làm tối tăm quá trình tâm linh và lợi dụng những người sợ hãi và dễ bị lừa gạt. Đã đến lúc vứt bỏ cách hiểu nông cạn này và nhìn sâu hơn.
Nếu bạn biến đất thành thức ăn, chúng ta gọi đó là nông nghiệp. Nếu biến thức ăn thành thịt và xương, chúng ta gọi là quá trình tiêu hóa. Nếu biến thịt thành bùn, chúng ta gọi là hỏa táng. Nếu biến cái thân thể này, hoặc một tảng đá hay khoảng không trống, thành một khả năng cao hơn, đó là hiến thánh.
Hiến thánh là một quá trình sống động. Từ Sanskrit để chỉ nó là pratishtha. Như đã thảo luận trước đây, khoa học hiện đại ngày nay cho chúng ta biết rằng mọi thứ đều là cùng một nguồn năng lượng biểu hiện dưới vô vàn cách thức khác nhau. Nếu như vậy, thứ bạn gọi là thần thánh, thứ bạn gọi là tảng đá, thứ bạn gọi là con người nam hay nữ, hay một con quỷ, tất cả đều là cùng một nguồn năng lượng đang hoạt động theo những cách khác nhau. Nếu bạn có công nghệ cần thiết, bạn có thể biến không gian đơn giản xung quanh thành một niềm phấn khởi thần thánh. Bạn chỉ cần lấy một tảng đá và biến nó thành một vị thần hoặc vị nữ thần. Đây chính là hiện tượng hiến thánh.
Một lượng kiến thức khổng lồ về hiến thánh đã được truyền đạt qua nhiều thế hệ từ thời cổ đại, đặc biệt là ở Ấn Độ. Điều này là vì dù cuộc sống của bạn tốt đẹp đến đâu hoặc kéo dài bao lâu, khát khao cơ bản của con người là được chạm tới nguồn gốc của vũ trụ sẽ luôn thể hiện tất yếu ở một lúc nào đó. Nếu khả năng tiếp cận với những chiều không gian sâu xa này không được kiến tạo và phổ biến tới mọi cá nhân khao khát, thì xã hội đã thất bại trong việc đảm bảo phúc lợi chân chính cho công dân của mình.
Chính vì lý do này mà nền văn hóa Ấn Độ đã xây dựng nhiều đền đài thánh trên khắp mọi ngõ ngách. Ý tưởng không phải là tạo ra những ngôi đền đài cạnh tranh với nhau. Mà đơn giản là không một ai phải sống trong một không gian chưa được hiến thánh.
Điều may mắn tuyệt vời cho một con người là được sống trong một không gian đã qua hiến thánh. Khi làm được điều đó, chính cách sống của bạn trở nên rõ rệt khác biệt. Bạn có thể hỏi rằng "Tôi có thể sống mà không cần điều đó không?" Bạn có thể làm vậy. Nếu bạn biết cách biến chính cơ thể mình thành một ngôi đền thì đi đến các đền thánh cũng không quan trọng lắm. Đúng vậy, bạn có thể biến chính cơ thể mình thành không gian thánh đó. Nhưng câu hỏi là liệu bạn có thể duy trì được tình trạng đó không?
Tất cả các nghi lễ tâm linh truyền thống đều nhằm biến chính xác thịt này thành một không gian như ngôi đền. Sau đó, tất cả những gì cần là bảo trì. Thực hành tâm linh hàng ngày là một cách cố gắng duy trì hệ thống cơ thể con người ở trạng thái rung động cao sau khi được ban phước. Tôi đã ban nhiều lần phước lành mạnh mẽ cho mọi người vào các thời điểm khác nhau, đôi khi một cách trang trọng, đôi khi thì không chính thức. Để hiến thánh cho một vật vô tri giác - ví dụ như một tảng đá - tốn một lượng lớn sinh lực. Làm cho con người trở thành những ngôi đền di động thì đỡ tốn kém và thân thiện với môi trường hơn nhiều - và hơn nữa, họ còn có thể di chuyển được! Có nhiều ưu điểm, nhưng vấn đề là con người phải dành một lượng thời gian, năng lượng và tập trung nhất định cho việc bảo trì, nếu không nó sẽ không hoạt động.
Khi mọi người trên thế giới quá bận rộn và không muốn biến chính mình thành những ngôi đền sống, việc xây dựng đền đài bằng đá trở nên cần thiết. Mục đích cơ bản của việc xây dựng một ngôi đền là mang lại lợi ích cho đa số những người không có bất kỳ tu luyện tâm linh nào trong cuộc sống. Nếu ai đó có thể thực hành một số pháp tu tâm linh trong một không gian đã được hiến thánh như vậy, thì sẽ càng có lợi gấp đôi. Đặc biệt với những người không biết cách biến chính cơ thể mình thành một ngôi đền, ngôi đền bên ngoài là vô giá.
Hiến thánh, hay pratishtha, được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, nhưng thông thường bằng cách sử dụng nghi lễ, chân ngôn, âm thanh, hình thái và các thành phần khác. Cần phải bảo trì thường xuyên. Các nghi lễ trong đền thờ không phải vì bạn; chúng nhằm giữ cho vị thần hay năng lượng hình tượng luôn tồn tại. Vị thần là gì? Vị thần là một công cụ cho một mục đích cụ thể: để đạt được sự trọn vẹn trong các khía cạnh khác nhau của cuộc sống. Trên thực tế, từ truyền thống để chỉ vị thần là yantra, theo nghĩa đen là máy móc hay một hình tượng năng lượng đang vận hành. Trí tuệ truyền thống luôn khuyên mọi người không nên giữ tượng đá ở nhà. Nếu giữ chúng, bạn phải bảo trì chúng hàng ngày bằng loại quy trình đúng đắn. Nếu một vị thần được hiến thánh qua chân ngôn, và nếu không duy trì cần thiết hàng ngày, vị thần đó sẽ trở thành một năng lượng rút lui và có thể gây tổn hại nghiêm trọng cho những người sống gần đó. Đáng buồn thay, nhiều ngôi đền đã trở nên như vậy do việc duy trì không đúng cách của những người không biết cách giữ cho chúng luôn tồn tại.
Prana pratishtha khác ở chỗ nó sử dụng chính năng lượng sống của bạn để hiến thánh một vật thể. Khi bạn hiến thánh một hình tượng theo cách này, nó sẽ không cần bất kỳ bảo trì nào. Đó thực sự là vĩnh cửu. Khi tôi hoàn thành sứ mệnh cuộc đời, đó là hiến thánh Dhyanalinga (một hình tượng năng lượng vi tế với tất cả các luân xa đang hoạt động ở khả năng tối đa, tại Trung tâm Yoga Isha ở Coimbatore, miền nam Ấn Độ, vào năm 1999), nó được thực hiện thông qua prana pratishtha. Đó là lý do tại đây không có nghi lễ nào cả. Không cần thiết. Dhyanalinga không cần bất kỳ bảo trì nào vì sự rung động của nó sẽ không bao giờ dao động. Ngay cả khi bạn lấy đi phần đá của cấu trúc đó, nó vẫn giữ nguyên. Bất kể những thay đổi vật lý có thể xảy ra theo thời gian, hình tượng năng lượng sẽ không bao giờ bị hủy hoại! Điều này là vì hình tượng thực sự được tạo ra từ một chiều không gian phi vật lý. Nó không thể bị phá hủy.
Các đền thờ Ấn Độ không bao giờ là nơi cầu nguyện. Truyền thống là bạn phải tắm gội trước tiên vào buổi sáng và đi thẳng đến đền thờ, ngồi đó một lúc, chỉ sau đó mới bắt đầu ngày làm việc của mình. Ngôi đền như một không gian nạp pin công cộng. Ngày nay, hầu hết mọi người đã quên điều này. Họ chỉ đi đến đền thờ, xin điều gì đó, đập đầu xuống sàn đền, rồi ra về. Điều này hoàn toàn vô nghĩa. Ý tưởng là ngồi và hấp thu năng lượng của không gian đó.
Tại Đền Thánh Thiền Định Dhyanalinga ở Coimbatore, bạn không cần phải "tin" vào bất cứ điều gì để nhận được lợi ích của nó. Bạn không cần phải cầu nguyện, hoặc dâng lễ vật nghi lễ. Bạn được khuyến khích chỉ cần nhắm mắt và ngồi ở đó một lúc. Nếu bạn tự thử, bạn sẽ khám phá ra đó là một trải nghiệm tuyệt vời. Dhyanalinga đang ở mức cường độ cao nhất mà bất kỳ hình tượng nào có thể đạt được. Ngay cả những người không biết gì về thiền định cũng trở nên thiền định theo bản chất của họ nếu đến ngồi tại đó. Đó là một công cụ phi thường đến vậy.
Nếu tôi được hỗ trợ và cơ hội cần thiết, tôi muốn hiến thánh cho toàn bộ hành tinh này! Đây là điều tôi giỏi: biến không khí mỏng thành một không gian rất mạnh mẽ và rung động, biến một miếng kim loại hay đá thành một âm vang thần thánh. Giấc mơ của tôi là một ngày nào đó toàn thể nhân loại sẽ sống trong một môi trường đã được hiến thánh. Ngôi nhà của bạn nên được hiến thánh; đường phố của bạn nên được hiến thánh; văn phòng của bạn nên được hiến thánh. Tất cả những nơi bạn dành thời gian của mình đều nên được hiến thánh. Đây là bản dịch của đoạn văn:
Khi sống trong một không gian như vậy, quá trình tiến hóa của bạn không cần phải theo thang bậc của Darwin; bạn có thể đơn giản vượt lên một bước cao hơn để đạt đến trạng thái trọn vẹn an lạc và tự do.
Ở Ấn Độ, hầu hết các đền thờ cổ xưa được xây dựng để thờ Shiva, hay "cái không hiện hữu". Có hàng nghìn đền thờ Shiva trên khắp đất nước, và phần lớn trong số đó không có bất kỳ tượng thần nào. Thông thường, họ có một hình tượng đại diện, một linga.
Từ "linga" có nghĩa là "hình thái". Khi sự sáng tạo bắt đầu xuất hiện, hay khi cái chưa biểu hiện trở nên biểu hiện, hình thái đầu tiên nó nhận lấy là một hình ellipsoid, hay một hình ellipse ba chiều, đó là những gì chúng ta gọi là linga. Nó bắt đầu dưới dạng một ellipsoid, và sau đó nhận nhiều hình dạng và hình thái khác. Nếu bạn đi vào trạng thái thiền định sâu, bạn sẽ thấy rằng trước một điểm tan biến tuyệt đối, một lần nữa năng lượng lại mang hình dạng của một linga. Các nhà vũ trụ học hiện đại đã xác định rằng lõi của mỗi thiên hà luôn là một hình ellipsoid.
Vì vậy, trong yoga, linga thường được coi là hình thái cơ bản và hoàn hảo nhất trong hiện hữu. Đó là hình thái đầu tiên và cuối cùng. Trong khoảng trống giữa đó, sự sáng tạo diễn ra. Cái vượt ra ngoài là "cái không hiện hữu" hay Shiva. Vì vậy, hình thái linga thực ra là một lỗ hổng trong bề mặt của sự sáng tạo. Đối với sự sáng tạo vật lý, cánh cửa trước là một linga và cánh cửa sau cũng là một linga! Điều này làm cho ngôi đền trở thành một lỗ hổng trong không gian vật lý. Bạn có thể đơn giản rơi xuyên qua đó để vượt ra ngoài: đó là điều làm cho nó trở thành một khả năng tuyệt vời đến vậy.
Một điều thú vị là các linga được tìm thấy khắp nơi trên thế giới. Ở châu Phi, có những linga bằng đất sét, chủ yếu được sử dụng cho mục đích huyền bí. Tại Delphi, Hy Lạp, có một linga bên dưới mặt đất, được gọi là "rún của trái đất". Đây hoàn toàn là một linga manipura, nhằm thúc đẩy thịnh vượng và phúc lợi vật chất. Khi có người cho tôi xem một bức ảnh của nó, tôi ngay lập tức biết đó là loại người nào đã hiến thánh nó. Chắc chắn là do các nhà yoga Ấn Độ hàng nghìn năm trước thực hiện; không còn nghi ngờ gì nữa.
Khi tôi hiến thánh Adiyogi: The Abode of Yoga (Ngôi nhà của Yoga) ở Tennessee vào năm 2015, đó là một sự kiện mang tầm quan trọng tâm linh đáng kể - thực sự là một cột mốc cho yoga cổ điển trên thế giới phương Tây. Sau khi xem qua các địa điểm cổ xưa đáng chú ý, tôi khá chắc chắn rằng không có gì có ý nghĩa năng lượng như thế này đã xảy ra ở Bắc Mỹ, hay trên thực tế là bán cầu Tây trong 3.000 năm qua. Được hiến thánh qua quá trình prana pratishtha, không gian đó là một lời tri ân đến vị Adiyogi, vị yoga gia đầu tiên trên thế giới. Hoàn toàn dành riêng cho việc theo đuổi và thực hành yoga, không gian đó đại diện cho một kho tàng sống động mang mức rung động và sung túc năng lượng cao nhất, đồng thời mang đến một khả năng tâm linh duy nhất cho những người tìm đạo ở phương Tây. Việc tạo ra bảy linga riêng biệt cho bảy luân xa đã sẽ dễ dàng hơn nhiều, nhưng tác động sẽ không giống nhau. Vì vậy, Dhyanalinga giống như cơ thể năng lượng của một đấng tối thượng, được gọi trong nền văn hóa yoga là "Shiva", vĩnh viễn hiện diện cho tất cả mọi người. Đó là khả năng biểu hiện cao nhất có thể.
Nếu đẩy năng lượng lên mức cường độ rất cao, nó chỉ có thể giữ hình thái cho đến một điểm nhất định. Vượt ra ngoài điểm đó, nó trở nên vô hình và con người hầu như không thể trải nghiệm được. Dhyanalinga đã được hiến thánh theo một cách thức mà năng lượng đã được kết tinh ở điểm cao nhất vượt ra ngoài không gian có hình thái. Nó được tạo ra để sự thân mật khi ngồi với một vị thầy sống có thể đến với mọi người tìm đạo khao khát điều đó.
Trên hết, điều làm cho Dhyanalinga trở thành một khả năng tâm linh vĩ đại và chưa từng có tiền lệ là thực tế nó đại diện cho cơ hội trải nghiệm cuộc sống theo toàn bộ chiều sâu và toàn diện. Người nào đến gần phạm vi ảnh hưởng của nó sẽ được tác động ở cấp độ cơ thể akashic, hay cơ thể dĩ thái, hoặc vignanamayakosha. Nếu bạn gây ra một sự chuyển hóa nhất định thông qua cơ thể vật lý, tâm lý hay năng lượng, nó có thể bị mất đi trong quá trình cuộc sống. Nhưng một khi bạn được chạm đến ở cấp độ cơ thể dĩ thái, thì điều đó sẽ vĩnh viễn tồn tại. Ngay cả khi bạn trải qua nhiều kiếp sống, hạt mầm giải thoát này sẽ chờ đợi cơ hội thích hợp để nẩy mầm và đâm hoa.
Tôi đã mất ba năm rưỡi trong một quá trình hiến thánh cực kỳ khó khăn để hoàn thành Dhyanalinga. Nhiều nhà yoga và những bậc thầy đã cố gắng tạo ra một linga như vậy, nhưng vì nhiều lý do khác nhau, tất cả các yếu tố cần thiết chưa bao giờ được hội tụ đầy đủ. Đó không phải là ý muốn của tôi mà là của vị thầy. Mặc dù sự gặp gỡ với thầy của tôi chỉ là thoáng qua, nhưng nó đã định hướng mọi bước đi trong cuộc đời tôi, kể cả chính sự ra đời của tôi. Cuối cùng Dhyanalinga đã được thực hiện, với ân huệ từ thầy và với tình yêu thương, sự hỗ trợ và thấu hiểu của nhiều người, những người đã hiến dâng chính mình, một cách có ý thức hay vô thức, tự nguyện hay bất đắc dĩ. Tôi tri ân tất cả họ.
Sadhana
Nếu bạn học cách sử dụng năm nguyên tố trong một đường nét hình học đơn giản, bạn có thể tạo ra một không gian năng lượng rất có lợi cho chính mình. Đây là một bài tập đơn giản bạn có thể thử. Vẽ một hình dạng giống như hình bên dưới bằng bột gạo hoặc một loại ngũ cốc nào đó. Đặt một ngọn đèn dầu ghee (bơ sữa đã thanh lọc) nhỏ vào một đĩa đầy nước ở giữa. Đặt một bông hoa vào trong nước. Bây giờ bạn đã tạo ra một hình dạng hình học, sử dụng nước, lửa và không khí. Bông hoa trong nước đại diện cho đất. Akash, hay ether, tất nhiên luôn hiện diện. Hãy thử quy trình đơn giản này mỗi tối. Bạn sẽ thấy năng lượng của căn phòng thay đổi theo một cách tinh tế nhưng rất mạnh mẽ. Theo cách này, bạn có thể tăng cường sức mạnh độc đáo cho ngôi nhà hay văn phòng làm việc của mình hàng ngày.
Mountains of Grace
Đối với nhiều người tu thiền sĩ ngày xưa, vấn đề là họ không bao giờ có thể chia sẻ đươc trí tuệ, kinh nghiệm giác ngộ của mình với những người xung quanh. Để tìm được một người sẵn sàng lắng nghe và đón nhận những gì bạn biết là điều rất khó khăn. Nếu bạn may mắn tìm được một người như vậy thì quý giá lắm rồi.
Vì vậy, hầu hết các bậc thiền sư đã tập trung gieo trồng kiến thức vào những tâm hồn ngoan đồng. Họ thường chọn những đỉnh núi thiêng liêng bởi ở đó ít bận rộn, xao động hơn. Quả nhiên, có rất nhiều nơi thiêng liêng như vậy ở Ấn Độ. Núi Kailash (Coimbatore, Ấn Độ) là nơi trữ được nhiều trí tuệ nhất.
Kailash là thư viện tâm linh lớn nhất trên hành tinh. Hầu hết các tôn giáo phương Đông đều coi nó là thánh địa. Đối với người Hindu, truyền thống xem đó là nơi cư ngụ của vị thần Shiva vĩ đại. Người Phật giáo cũng xem nó là thánh địa bởi ba vị Phật lớn của họ được cho là đang sống tại đó. Tôi đã được chứng kiến qua vài lần puja (lễ cầu nguyện) được tổ chức tại đó.
Tôi đã dẫn người hành hương đến Kailash trong 11 năm qua. Khi tôi đến đó vào năm 2007, sức khỏe của tôi rất tệ. Tôi đã đi liên tục trong nhiều tuần, trong thời gian đó các bác sĩ ở khắp mọi nơi đều chẩn đoán tôi mắc nhiều bệnh khác nhau, bao gồm sốt rét, sốt xuất huyết, sốt thương hàn, thậm chí cả ung thư. Những vị bác sĩ bối rối đã gọi kết quả xét nghiệm máu của tôi là "huyền bí"! Cuối cùng, tôi quyết định nhìn sâu vào nội tâm và tự làm chủ bản thân. Vài ngày sau, tôi đến Kailash. Lúc này tôi đã khá hơn, nhưng vẫn còn rất yếu. Khi nhìn lên ngọn núi, tôi nhận thấy có rất nhiều kiến thức huyền bí đang chờ được khám phá. Vì vậy, tôi đã lấy một sợi năng lượng từ ngọn núi và kết nối nó với hệ thống năng lượng của mình theo một cách nhất định. Ngay lập tức, sức sống dường như trỗi dậy, và cơ thể năng lượng suy kiệt của tôi (sau gần 8 tuần sốt) bật trở lại bình thường. Tôi trông trẻ ra, cảm thấy trẻ trung hơn, ngay cả giọng nói của tôi cũng thay đổi - chỉ trong vòng khoảng một giờ! Kết quả là rõ ràng. Có gần 200 người xung quanh đã chứng kiến điều này.
Còn có những nơi khác mang năng lượng dao động khổng lồ, nơi những nhà huyền môn đã để lại quả thiện trí của việc tu luyện tâm linh. Những không gian như vậy vô số kể ở dãy Himalaya. Nhiều nhà tu thiền và nhà yoga đã chọn những ngọn núi này làm nơi cư trú của họ. Khi họ sống tại đó, họ tự nhiên để lại một chiều không gian năng lượng nhất định, và do đó, dãy Himalaya đã tích tụ một loại ánh đạo.
Ví dụ, Kedarnath chỉ là một ngôi đền nhỏ ở Himalaya. Không có vị thần nào ở đó; đó chỉ là một mỏm đá nhô ra. Nhưng nó lại là một trong những nơi quyền năng nhất trên thế giới! Nếu bạn cố gắng cải thiện khả năng tiếp nhận của mình và sau đó đến một nơi như thế, nó sẽ thổi bay bạn đi. Có nhiều nơi như vậy ở phương Đông, nhưng dãy Himalaya hấp dẫn nhiều người nhất.
Còn một nơi khác gọi là Kumara Parvat ở bang Karnataka miền nam Ấn Độ. Parvat có nghĩa là "ngọn núi". Kumara ám chỉ con trai của Shiva tên là Kartikeya. Ông đã ra trận nhiều lần, cố gắng biến đổi thế giới, nhưng khi nhận ra sự vô nghĩa của việc làm đó, ông đã đến vùng này. Chính tại nơi đây, lần cuối cùng ông đã rửa thanh kiếm của mình khỏi những vết máu. Ông quyết định rằng cho dù chiến đấu cả 1000 năm, ông cũng sẽ không bao giờ thay đổi được thế giới; mỗi giải pháp bạo lực chỉ làm nảy sinh ra mười vấn đề khác. Vì vậy, ông đã leo lên đỉnh núi và đứng trên đó. Thông thường khi một nhà yoga muốn rũ bỏ thân xác, họ sẽ ngồi hoặc nằm xuống. Nhưng bởi vì ông là một chiến binh, nên Kartikeya đã đứng thẳng lên và rời khỏi thân xác của mình trong tư thế đứng.
Nếu một người có thể tự nguyện rời khỏi hình hài vật lý mà không làm tổn hại đến nó, đó là dấu hiệu của sự thống trị tuyệt đối về quá trình sống. Điều này thường được gọi trong truyền thống Ấn Độ là mahasamadhi, hay "sự bình thản vinh quang".
Nhiều năm trước, khi tôi đến Kumara Parvat, một chiếc lều nhỏ đã được dựng lên cho tôi. Tôi muốn ngủ trong đó, nhưng khi bước vào và cố gằng nằm xuống, cơ thể tôi sẽ tự động chuyển sang tư thế đứng, phá hủy chiếc lều. Cả đêm tôi không thể ngồi; cơ thể tôi chỉ có thể đứng thẳng. Đó là lúc tôi bắt đầu nhìn thấy cuộc đời của Kartikeya là như thế nào. Mặc dù ông sống cách đây hàng nghìn năm, nhưng những gì ông để lại vẫn còn sống động rạo rực.
Loại công việc như thế này sẽ không bao giờ bị xóa bỏ. Bất cứ nơi đâu một người làm điều gì đó với sinh lực của mình, người đó sẽ tạo ra một khả năng nhất định không thể bị xóa bởi bất kỳ sự kiện nào. Công việc và hiện diện của bất cứ ai đã thử nghiệm dù chỉ một chút với các chiều không gian nội tâm cũng không bao giờ bị phá hủy.
Ví dụ, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được cho là đã sống cách đây 2.500 năm, và Chúa Jesus được cho là đã sống cách đây 2.000 năm, nhưng đối với tôi, cả hai đều là một hiện thực sống động. Một khi bạn tạo ra một khối lượng công việc nhất định với sinh lực của mình, nó sẽ trường tồn vĩnh viễn về mặt thực tế và thời gian không thể phá hủy nó. Nếu bạn làm việc với cơ thể vật lý bằng xương thịt, nó có tuổi thọ giới hạn. Nếu bạn sử dụng tâm trí, tuổi thọ của công việc đó sẽ lâu dài hơn nhiều. Nhưng nếu bạn làm việc với năng lượng sống căn bản của mình, thì kết quả sẽ vượt thời gian.
THE SILVER PEAKS
Ngay từ thuở lọt lòng, luôn có một ngọn núi nhất định ẩn hiện trong tầm nhìn của tôi. Chỉ khi tôi 16 tuổi và thảo luận điều này với bạn bè (những người đáp lại rằng "Anh điên à! Núi nào cơ chứ?") thì tôi mới nhận ra không ai khác có những ngọn núi trong mắt họ! Một thời gian tôi nghĩ mình nên tìm ra ngọn núi đó, nhưng rồi bỏ qua ý định ấy.
Giả sử có một vết bẩn trên kính mắt của bạn. Ban đầu bạn sẽ thấy khó chịu, nhưng sau một lúc bạn sẽ quen dần. Trường hợp của tôi cũng giống như vậy với ngọn núi trong tầm nhìn. Chỉ đến nhiều năm sau, khi dòng ký ức trở lại và tôi đang tìm kiếm một nơi để thiết lập Dhyanalinga, tôi mới bắt đầu tìm kiếm ngọn núi đã chiếm lĩnh tầm nhìn của mình.
Tôi đi khắp mọi nơi. Tôi đã đi suốt quãng đường 760 dặm từ Goa đến Kanyakumari phía nam đầu của Ấn Độ khoảng 11 lần. Dọc theo mọi con đường lộ và đường đất, tôi đã đi hàng nghìn dặm.
Rồi một ngày hoàn toàn ngẫu nhiên, nhiều năm sau đó, tôi đến một ngôi làng ngoại ô Coimbatore. Khi đang lái xe vòng qua một khúc quanh, tôi nhìn thấy Ngọn Núi Thứ 7 của dãy Velliangiri. Đấy chính là ngọn núi mà tôi đã nhìn thấy kể từ khi còn bé. Ngay khoảnh khắc tôi nhìn thấy đỉnh núi đó - một ngọn núi đã sống trong tôi suốt cuộc đời - nó biến mất khỏi tầm nhìn nội tâm và trở thành một hiện thực sống động. Đột nhiên tôi biết đây sẽ là không gian thuận lợi nhất cho công việc cuộc đời mình.
Nếu bạn hỏi tôi: "Ngọn núi nào là vĩ đại nhất trên hành tinh?", tôi sẽ luôn trả lời: "Velliangiri". Tôi đã mang dấu ấn của những ngọn núi này trong mắt từ khi mới ra đời và chúng đã ám ảnh tôi kể từ đó. Chúng đã sống trong tôi và là hệ thống điều hướng, như một radar nội tâm của riêng tôi. Những ngọn núi này không chỉ là địa lý đối với tôi. Chúng là nguồn cung cấp tất cả những gì tôi cần biết để tạo ra Dhyanalinga.
Từ "Velliangiri" theo nghĩa đen là "núi bạc", và dãy núi này được đặt tên như vậy bởi phần lớn trong năm chúng đều phủ đầy mây. Chúng cũng được gọi là "Kailash của miền Nam" bởi Adiyogi, hay chính Shiva, đã dừng chân trên những đỉnh núi này trong hơn ba tháng. Khi Ngài đến đây, Ngài không ở trong trạng thái hỷ lạc như thường lệ. (Theo truyền thuyết, Ngài đã tức giận với chính mình vì đã không giữ lời hứa với một trong những tín đồ nữ nhiệt thành nhất của mình). Ngài rất gay gắt và chán nản, và năng lượng ấy vẫn hiển hiện cho đến ngày nay; nó đã tạo ra một dòng truyền thống những nhà yoga có phong cách Hùng Hậu. Họ đã làm pháp tu tâm linh tại đây và thâu nhận được phẩm chất ấy. Họ không giận dữ về bất cứ điều gì cụ thể; đơn giản họ đang ở trong một trạng thái cường độ nhất định.
Trên hết, ngọn núi này rất quan trọng đối với tôi bởi đây chính là nơi vị thầy của tôi đã rời khỏi thân xác. Ngọn núi này giống như một ngôi đền, một ngôi thánh đường sống động, cho truyền thống yoga của chúng tôi - một dòng thần thánh cuồn cuộn, một đợt sóng ân huệ.
The Way of the Mystic
Có một sự tò mò lớn trong một số giới về những trải nghiệm huyền bí. Nhiều người tuyên bố đã có những trải nghiệm siêu nhiên đặc biệt mà họ đưa ra như bằng chứng cho sự tiến hóa tâm linh của mình.
Một từ phổ biến trong vốn từ tâm linh của mọi người ngày nay là samadhi, được coi là chứng nhận cho thành tựu huyền bí.
Samadhi là gì?
Đó là một trạng thái nhất định của sự bình thản trong đó trí tuệ vượt ra ngoài chức năng phân biệt bình thường của nó. Điều này, theo đó, làm lỏng lỏng sự ràng buộc với cơ thể vật lý của một người để có một khoảng cách giữa bạn và cơ thể của bạn.
Có nhiều loại samadhi khác nhau, mà để dễ hiểu, đã được phân loại thành tám loại. Trong tám loại này có hai nhóm lớn: savikalpa (các samadhi với các thuộc tính hoặc phẩm chất rất dễ chịu, hạnh phúc và sung sướng); và nirvikalpa (các samadhi nằm ngoài dễ chịu và khó chịu, không có thuộc tính hoặc phẩm chất). Trong trường hợp samadhi nirvikalpa, chỉ có một điểm tiếp xúc đơn giản với cơ thể. Phần năng lượng còn lại được buông lỏng và không liên quan đến thể chất. Những trạng thái này được duy trì trong một thời gian nhất định để giúp những người tu luyện thiết lập sự phân biệt giữa bản thân và cơ thể của họ.
Samadhi là một bước quan trọng trong sự tiến hóa tâm linh của một người, nhưng nó vẫn chưa phải là tối thượng. Trải nghiệm một loại samadhi nhất định không có nghĩa là bạn được giải thoát khỏi các chu kỳ hiện hữu. Đó chỉ là một cấp độ trải nghiệm mới. Khi bạn còn là một đứa trẻ, bạn đã trải nghiệm cuộc sống theo một cách nhất định. Khi bạn bước vào tuổi trưởng thành, bạn có một cấp độ trải nghiệm khác. Bạn trải nghiệm những điều giống nhau theo cách hoàn toàn khác nhau ở các thời điểm khác nhau trong cuộc đời. Các samadhi cũng giống như vậy.
Một số người có thể rơi vào một cấp độ samadhi nhất định và ở đó trong nhiều năm vì nó rất vui thích. Trong tình trạng này, không có không gian hoặc thời gian và không có vấn đề về cơ thể vì các rào cản thể chất và tâm lý đã được phá vỡ ở một mức độ nào đó. Nhưng điều này chỉ là tạm thời. Ngay khi họ thoát khỏi trạng thái này, tất cả các nhu cầu cơ thể và thói quen tâm lý đều quay trở lại một lần nữa
Nói chung, so với người tỉnh táo, người say rượu một chút có một trải nghiệm khác và sự phấn khích khác. Nhưng tất cả mọi người cuối cùng đều phải tỉnh lại ở một lúc nào đó. Tất cả các samadhi đều là cách để được kích thích mà không cần bất kỳ hóa chất bên ngoài nào. Nếu bạn đi vào những trạng thái này, một chiều kích mới sẽ mở ra cho bạn. Nhưng điều quan trọng là nó không để lại cho bạn sự biến đổi vĩnh viễn. Bạn đã không chuyển sang một thực tại khác. Cấp độ trải nghiệm của bạn đã được làm sâu sắc hơn, nhưng bạn vẫn chưa trở nên tự do trong một nghĩa tối hậu.
Hầu hết các đấng giác ngộ không bao giờ ở lại trong các trạng thái samadhi. Đức Phật Cồ Đàm không bao giờ ngồi thiền trong nhiều năm liền sau khi giác ngộ. Nhiều đệ tử của Ngài đã có những lần thiền định rất lâu trong nhiều năm. Nhưng chính Đức Phật Cồ Đàm không làm điều này vì Ngài nhất định đã thấy rằng nó không cần thiết đối với Ngài. Ngài đã thực hành và trải qua tất cả tám loại samadhi trước khi giác ngộ, và Ngài đã bỏ chúng đi. Ngài nói: "Đây không phải là nó". Ngài biết rằng điều này sẽ không đưa Ngài đến sự chứng ngộ. Samadhi chỉ là một cấp độ trải nghiệm cao hơn, một loại LSD nội tâm mà không có bất kỳ đầu vào bên ngoài nào, gây ra các cấp độ nhận thức bị thay đổi. Rủi ro là bạn có thể bị mắc kẹt vào đó, bởi vì nó đẹp hơn rất nhiều so với thực tại hiện tại, nhưng ngay cả những trải nghiệm đẹp nhất, như chúng ta đã biết, cũng có thể trở nên nhàm chán theo thời gian.
Nếu bạn đã đưa sự chứng ngộ trở thành ưu tiên hàng đầu trong cuộc đời mình, thì bất cứ điều gì không đưa bạn đến gần hơn với tự do tối thượng của mình đều trở nên vô nghĩa. Giả sử bạn đang leo núi Everest: bạn sẽ không bước sang một bên vì mỗi chút năng lượng đều cần thiết để đạt đến đỉnh. Bây giờ, nếu bạn phải đạt đến đỉnh cao của ý thức, bạn cần mọi chút năng lượng mà bạn có thể huy động. Và vẫn chưa đủ! Bây giờ, bạn sẽ không muốn thực hiện bất kỳ hành động nào làm bạn xao nhãng khỏi mục đích chính.
Bạn có thể tự hỏi tự chứng ngộ là gì? Rốt cục, tất cả những gì hầu hết mọi người đang tìm kiếm là sức khỏe, hạnh phúc, của cải, tình yêu và thành công. Bạn có thực sự cần tự chứng ngộ không?
Hãy xem xét điều này theo cách đơn giản nhất có thể. Đúng không, bạn càng biết nhiều về máy tính của mình, bạn càng có thể sử dụng nó tốt hơn? Đúng không, khả năng sử dụng một thiết bị hoặc dụng cụ của bạn tỷ lệ thuận trực tiếp với kiến thức của bạn về nó? Đúng không, người có trình độ khéo léo và chuyên môn cao có thể sử dụng ngay cả một dụng cụ đơn giản theo cách kỳ diệu? Bạn đã từng thấy một số người cưỡi trên một miếng nhựa mà họ gọi là ván lướt sóng, làm những điều kỳ diệu chưa? Chỉ là một miếng nhựa, và họ có thể biểu diễn những màn khéo léo và đẹp đẽ đáng kinh ngạc như vậy!
Tương tự, hiểu biết sâu sắc hơn về cơ chế con người của bạn, cuộc sống của bạn sẽ càng kỳ diệu hơn. Trong mọi nền văn hóa, đã có một vài người thực hiện một số hành động khiến người khác tin vào phép màu. Tất cả những hành động được gọi là phép màu đều chỉ bắt nguồn từ sự tiếp cận sâu sắc hơn với cuộc sống mà một số người đã tận hưởng. Sự tiếp cận đó, như tôi đã nói đi nói lại, luôn sẵn có cho tất cả mọi người ai muốn nhìn sâu hơn.
Tantra: A Technology for Transformation
Ngày nay, có nhiều thực hành liên quan đến các khoa học huyền bí đang ngụy trang dưới vỏ bọc của các quá trình tâm linh.
Giả sử tôi ở Ấn Độ và bạn ở Mỹ. Tôi muốn gửi cho bạn một bông hoa, nhưng tôi không sẵn lòng đi theo hành trình của Columbus. Nếu tôi làm cho bông hoa đó đột nhiên rơi xuống trên chân bạn, đây là huyền bí. Không có gì tâm linh cả; nó chỉ là một cách khác để xử lý chiều kích vật lý của cuộc sống.
Ở Ấn Độ, chúng tôi có nhiều quy trình huyền bí tinh vi. Có những người chỉ cần nhìn vào một bức ảnh và có thể làm hoặc phá vỡ cuộc đời của một người. Họ có thể đảm bảo rằng người đó sẽ mắc một căn bệnh mà cơ thể không thể mắc phải trong một khoảng thời gian ngắn như vậy theo cách thông thường. Những người hành nghề huyền bí này cũng có thể tạo ra sức khỏe, nhưng đáng buồn thay, nhiều người trong số họ sử dụng khả năng của mình theo cách khác, vì dường như có một thị trường tốt hơn cho những tài năng tiêu cực này. Dù sao, cho dù được sử dụng cho sức khỏe kém hay tốt hơn cũng không phải là vấn đề chính. Việc sử dụng huyền bí hướng đến bất kỳ mục tiêu vị kỷ nào đều không được khuyến khích.
Truyền thống yoga đầy ắp những câu chuyện về vị yogi vĩ đại Gorakhnath. Một số người nói ông sống vào thế kỷ 11, nhưng cũng có nhiều truyền thuyết đưa ông về thời kỳ sớm hơn. Ông là đệ tử của Matsyendranath, một vị yogi xuất chúng với năng lực riêng. Mức độ thành tựu của ông cao đến nỗi Matsyendranath thường được tôn kính như một hóa thân của Shiva hoặc Adiyogi. Truyền thuyết cho biết Matsyendranath đã sống khoảng sáu trăm năm. Điều này không nhất thiết phải được chấp nhận theo nghĩa đen hay bác bỏ như một tác phẩm tôn giáo. Về cơ bản, nó chỉ ra tuổi thọ đặc biệt dài và sự khâm phục cực kỳ lớn đối với nhân vật biểu tượng này.
Gorakhnath trở thành đệ tử của ông và rất thần tượng và tôn sùng thầy của mình. Gorakhnath toàn lửa và cường độ. Matsyendranath nhìn thấy quá nhiều ngọn lửa trong anh ta, nhưng không đủ sự kiềm chế. Lửa cháy đi nhiều thứ, vì vậy Gorakhnath bắt đầu cháy qua các bức tường của sự vô minh, và đột nhiên anh ta có được sức mạnh to lớn. Matsyendranath thấy rằng anh ta đang chạy một chút phía trước bản thân, nên ông nói với anh ta: "Đi đi trong 14 năm. Đừng ở gần ta. Ngươi đang hấp thụ quá nhiều từ ta".
Đây là điều khó khăn nhất mà Gorakhnath phải làm. Nếu Matsyendranath nói: "Từ bỏ cuộc đời ngươi", anh ta sẽ làm ngay lập tức. "Đi đi" là điều anh ta không thể chịu đựng. Nhưng vì đó là những gì thầy yêu quý của anh ta đã yêu cầu, nên anh ta đi.
Trong 14 năm, anh ta đếm từng ngày giờ, chờ đợi khoảnh khắc khi anh ta có thể trở lại. Ngay khi thời hạn kết thúc, anh ta vội vã trở lại. Khi anh ta đến, anh ta thấy một đệ tử đang canh gác hang động nơi Matsyendranath sống. Gorakhnath nói: "Tôi muốn gặp thầy của tôi!"
Vị yogi đang gác cửa hang động nói: "Tôi không có hướng dẫn như vậy, vì vậy tốt hơn là bạn nên đợi".
Gorakhnath bùng lên. Anh ta nói: "Tôi đã đợi 14 năm rồi, đồ ngốc! Tôi không biết khi nào anh đến đây. Có lẽ anh đến đây hôm qua. Làm sao anh dám ngăn cản tôi!"
Anh ta đẩy người đệ tử sang một bên và đi vào hang động. Matsyendranath không có ở đó. Gorakhnath trở ra và lắc người đệ tử, nói: "Ông ấy ở đâu? Tôi muốn gặp thầy của tôi ngay bây giờ!"
Người đệ tử nói: "Tôi không có hướng dẫn để cho bạn biết ông ấy ở đâu."
Gorakhnath không thể kiềm chế bản thân. Anh ta sử dụng quyền năng huyền bí, nhìn vào tâm trí của người đệ tử và xác định nơi Matsyendranath đang ở. Sau đó, anh ta bắt đầu đi về hướng đó. Vị guru của anh đang đợi anh ta ở nửa đường. Matsyendranath nói: "Ta đã gửi ngươi đi 14 năm, vì ngươi đang bắt đầu hướng về huyền bí. Ngươi đã đánh mất tầm nhìn về quá trình tâm linh và bắt đầu tận hưởng quyền lực mà nó mang lại cho ngươi. Khi ngươi trở lại, điều đầu tiên ngươi làm là sử dụng quyền năng huyền bí để mở tâm trí của người đệ tử đồng môn. 14 năm nữa cho ngươi." Và vì vậy, ông đã đuổi anh ta đi một lần nữa. Có nhiều câu chuyện về Gorakhnath xâm nhập vào lĩnh vực bị cấm này, và Matsyendranath nhiều lần trừng phạt anh ta. Đồng thời, Gorakhnath cuối cùng cũng trở thành đệ tử vĩ đại nhất mà Matsyendranath từng đào tạo.
Đây là cách thực hành huyền bí luôn được đối xử trong nền văn hóa yoga. Nó không bao giờ được đối xử với sự tôn trọng. Nó được coi là cách lạm dụng cuộc sống, xâm phạm vào những lĩnh vực nơi bạn không nên xâm phạm. Nó chỉ được thực hành bởi một số loại người mê say quyền lực hoặc tiền bạc.
Đồng thời, huyền bí không phải lúc nào cũng là điều tiêu cực. Nó đã kiếm được danh tiếng xấu này thông qua việc lạm dụng. Huyền bí về cơ bản là một công nghệ. Không có khoa học hay công nghệ nào vốn có tính tiêu cực. Nếu chúng ta bắt đầu sử dụng công nghệ để giết người hoặc tra tấn người khác, thì sau một thời gian chúng ta sẽ nghĩ rằng: "Đủ rồi với công nghệ khỉ gió này!" Đó là những gì đã xảy ra với huyền bí. Quá nhiều người lạm dụng nó vì lợi ích cá nhân. Vì vậy, nhìn chung trên con đường tâm linh, huyền bí bị xa lánh.
Những gì thường được gọi là huyền bí nói chung là những gì chúng ta biết là mật tông. Trong cách hiểu hiện tại của xã hội, mật tông liên quan đến việc sử dụng các phương pháp rất dị đoan hoặc không được chấp nhận về mặt xã hội. Nhưng theo nghĩa kinh điển, mật tông chỉ đơn giản có nghĩa là "công nghệ". Nó không liên quan gì đến tính dục thoáng đạt. Điều quan trọng là phải phân biệt rõ ràng giữa loại mật tông huyền bí và mật tông tâm linh. Hai loại này được phân chia thành "mật tông tay trái" và "mật tông tay phải", và hoàn toàn khác nhau về bản chất.
Mật tông tay trái liên quan đến các nghi lễ khác nhau có thể dường như rất kỳ lạ đối với nhiều người. Bàn tay trái rất bên ngoài; bạn cần nguyên liệu và sự sắp xếp cầu kỳ để làm cho nó xảy ra. Các thực hành huyền bí, thường được gọi là mật tông tay trái, đã mang đến cho con người khả năng giao tiếp qua khoảng cách, xuất hiện tại hai nơi cùng một lúc, và sử dụng năng lượng để phục vụ lợi ích bản thân và gây tổn hại cho người khác. Mật tông tay phải hơi nội tâm hơn; nó liên quan đến việc cho phép bạn sử dụng năng lượng của mình để làm cho mọi thứ xảy ra. Bạn sử dụng tất cả các khía cạnh đơn giản của cuộc sống như một khoa học chủ quan để hướng nội và làm điều gì đó với chính mình. Mật tông tay trái là một công nghệ thô sơ và dễ tiếp cận hơn đối với những người chưa được khởi huấn, trong khi mật tông tay phải rất tinh xảo và chỉ có thể tiếp cận thông qua các lễ khởi huấn quyền năng.
Mật tông là một khả năng nhất định; không có nó, không có quá trình tâm linh. Nếu bạn không có mật tông trong bạn, bạn không có công nghệ để biến đổi con người; tất cả những gì bạn có là lời nói. Lời nói có thể truyền cảm hứng và định hướng, nhưng không biến đổi. Một học giả không thể được gọi là guru. Không có công nghệ biến đổi thì không có bậc thầy. Vì vậy, không có guru nào mà không có mật tông. Ngày nay quá nhiều người tự xưng là guru, nhưng tất cả những gì họ đang làm là nhấn mạnh lại các kinh điển. Công việc của một vị guru chân chính là tổng tu sửa toàn bộ cơ chế con người, từ các mô thức luân hồi karma đã thâu tóm, hướng tới khả năng tối thượng của nó. Giống như công việc của một thợ máy, loại bỏ các mụn karma! Nếu trong người đó không có mật tông hay công nghệ, bạn không thể gọi người đó là guru.
SERPENT POWER
Từ "kundalini" theo nghĩa đen có nghĩa là "năng lượng". Nó đề cập đến một loại năng lượng nhất định trong mỗi con người, phần lớn đang ở trạng thái tiềm tàng và chưa biểu hiện. Kundalini luôn được tượng trưng trong truyền thống yoga dưới hình tượng một con rắn cuộn tròn.
Một con rắn cuộn tròn biết sự tĩnh lặng ở mức độ rất cao. Khi con rắn đứng im, nó tĩnh lặng tuyệt đối đến nỗi ngay cả khi nó nằm trên đường đi của bạn, bạn cũng sẽ bỏ qua nó. Chỉ khi nó di chuyển, bạn mới nhìn thấy nó. Nhưng những vòng cuộn này chứa đựng một sự năng động tiềm tàng bất ổn bên trong chúng. Vì vậy, kundalini được ví như một con rắn cuộn tròn vì năng lượng phi thường này hiện hữu trong mỗi con người, nhưng cho đến khi nó hoạt động, bạn sẽ không bao giờ nhận ra nó ở đó.
Để sống một cuộc sống vật chất trọn vẹn, chỉ cần một lượng nhỏ năng lượng vật lý này là đủ. Chỉ khi có nhu cầu vượt qua thể chất thì bạn mới cần một đợt bùng nổ năng lượng để đưa bạn vượt ra khỏi thực tại này. Nó giống như sự khác biệt về lượng năng lượng cần thiết cho du lịch bằng máy bay và phóng tên lửa. Bay trong khí quyển là một chuyện và phá vỡ rào cản khí quyển để du hành vũ trụ là chuyện hoàn toàn khác. Tương tự, vượt qua thể chất đòi hỏi một chiều kích năng lượng hoàn toàn khác.
Không có một ngôi đền Ấn Độ nào mà không có hình ảnh con rắn. Điều này không phải vì đây là một nền văn hóa thờ cúng rắn. Nó tượng trưng cho không gian thiêng liêng có khả năng kích hoạt các năng lượng tiềm tàng trong con người.
Rắn được biết đến là loài sinh vật có khả năng cảm nhận cực kỳ nhạy bén. (Một phần lý do cho điều này đương nhiên là chúng hoàn toàn điếc và chỉ cảm nhận được rung động). Rắn đặc biệt bị thu hút bởi người có tâm thái thiền định. Trong truyền thống, luôn có câu nói rằng nếu một yogi đang thiền ở một nơi nào đó, sẽ có một con rắn ở gần đó. Nếu năng lượng của bạn trở nên tĩnh lặng, con rắn tự nhiên sẽ bị thu hút về phía bạn.
Mặc dù về mặt thể chất có một thế giới khác biệt giữa con rắn và con người, nhưng về hệ thống năng lượng thì chúng rất gần gũi. Nếu bạn gặp một con rắn hổ mang hoang dã, bạn có thể thấy nó bò vào tay bạn mà không có sự kháng cự nào vì năng lượng của nó và của bạn rất tương tự nhau. Trừ khi hóa chất của bạn thể hiện sự lo lắng mà nó đánh giá là nguy hiểm, con rắn không có ý định buông lỏng nọc độc của mình, là tài sản của nó, những tính chất dược liệu của nó ngày càng được công nhận trên thế giới.
Tất nhiên, về mặt lịch sử, rắn đã nhận được nhiều sự chỉ trích do câu chuyện trong Kinh Thánh về Adam và Eva. Nhưng nếu bạn xem xét câu chuyện kỹ lưỡng, bạn sẽ thấy chính con rắn đã khởi xướng sự sống trên hành tinh này. Nếu không, chỉ có một cặp đôi ngốc nghếch không biết làm gì với bản thân họ. Bạn và tôi sẽ không có mặt ở đây nếu không có con rắn tuyệt vời đó!
Cuối cùng, sự trỗi dậy của năng lượng kundalini đặt nền tảng cho một nhận thức lớn hơn về cuộc sống. Các hình ảnh truyền thống của Adiyogi, hay Shiva, miêu tả một con rắn cùng với Ngài để chỉ ra rằng khả năng nhận thức của Ngài đã đạt đến đỉnh cao. Chỉ khi năng lượng đạt đến một mức độ cường độ và khối lượng nhất định, thực tại mới có thể được nhận biết trong trạng thái tinh khiết tuyệt đối nhất. Nếu không, mọi dấu ấn nghiệp lực khác mà chúng ta có (đi ngược trở lại khi chúng ta chỉ là một sinh vật đơn bào cách đây hàng triệu năm), sẽ can thiệp vào cách chúng ta nhận thức thực tại.